MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria :: tài liệu về đức mẹ :: lễ kính đức mẹ trong năm :: ___ lễ mẹ đồng công (sầu bi, 15/9)
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
Lễ Mẹ Đau Thương (15/9) --- Phải Chăng Danh Xưng “ðức Mẹ Ðồng Công Cứu Chuộc” Sẽ Trở Thành Tín Ðiều?
Thứ Sáu, Ngày 15 tháng 9-2017

Phải Chăng Danh Xưng “Ðức Mẹ Ðồng Công Cứu Chuộc” Sẽ Trở Thành Tín Ðiều? (5)

LM Phaolô Nguyễn Văn Tùng
8/15/2011
Vietcatholic.org


--------------------------------------------------------------------------------

Phải Chăng Danh Xưng “Ðức Mẹ Ðồng Công Cứu Chuộc” Sẽ Trở Thành Tín Ðiều?
(5)

Tuần san Newsweek số ra ngày 25/8/1997 đã đăng bài của Kenneth L. Wooward - viết cùng với Andrew Murr, Christopher Dickey, Eric Larson, Sarah Van Boven, và Hersch Doby - dưới tựa đề “Hail, Mary” (Kính mừng Maria). Trong bài này Woodward và nhóm cùng viết với ông đã trình bày tương đối khách quan về một phong trào đặc biệt - có tên là “Vox Populi Mariae Mediatri, tạm dịch là: Tiếng dân yểm trợ Đức Maria Đấng Trung Gian” - đã gửi thỉnh nguyện thư lên Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, xin ngài dùng quyền Bất Khả Ngộ (Infallibility) để công bố một tín điều (dogma) mới về Ðức Mẹ Maria, nhân dịp giáo hội đi vào thiên kỷ thứ ba, và mừng Ðại Năm Thánh, năm 2000. Tín điều này sẽ xác định ba điều: Ðức Mẹ Ðồng Cứu Chuộc nhân loại với Chúa Kitô (Co-Redemptrix, chữ này đã được nhiều người dịch qua tiếng Việt là “Ðồng Công Cứu Chuộc.” Xin trở lại vấn đề đó sau), Ðức Mẹ là Ðấng Trung Gian của mọi ân sủng (Mediatrix of all Graces), và Ðức Mẹ là Ðấng Bào Chữa cho Dân Chúa (Advocate for the People of God).

Woodward, qua tài liệu do ông Mark Miravalle - giáo sư môn thần học của trường đại học Franciscan ở Steubenville, Ohio - cung cấp, cho biết rằng trong bốn năm trước đó đã có những thỉnh nguyện thư mang trên bốn triệu chữ ký của giáo dân Công giáo, gửi từ 157 quốc gia lên Ðức Thánh Cha (ĐTC) Gioan Phaolô II. Trong số những thỉnh nguyện viên này đã có gần 500 Ðức Giám Mục, 42 Ðức Hồng Y kể cả các ÐHY John O’Connor (RIP) của New York và Joseph Glemp của nước Ba Lan, cộng thêm sáu vị khác, lúc đó đang phục vụ trong điện Vatican. Ngoài ra còn có thêm chữ ký của Mẹ Têrêsa ở Calcutta (RIP) và nữ tu Angelica, sáng lập viên đài truyền hình Công Giáo EWTN ở Birmingham, tiểu bang Alabama, Mỹ.

Tuy nhiên, cơ quan ngôn luận chính thức của điện Vatican, tờ L’Osservatore Romano, loan tin trong tháng 6/97 rằng ÐTC đã cho thành lập một ủy ban gồm 23 nhà thần học về Ðức Maria (Mariologists), để nghiên cứu, thảo luận và đề nghị câu trả lời cho thỉnh nguyện nói trên. Nhiều người đã nghĩ rằng ủy ban gồm toàn những “chuyên viên” về Thánh Mẫu học này sẽ nhanh chóng chấp thuận thỉnh nguyện. Nhưng thật là một ngạc nhiên khi tất cả 23 vị đã cùng đề nghị ÐTC không nên công bố tín điều mới này, họ viện lẽ rằng những điều được thỉnh nguyện đã đi ngược lại với giáo huấn của Công Ðồng Vatican II; hơn nữa, một tín điều về Ðức Maria như vậy sẽ phá đổ tất cả mọi thành quả đạt được trong nỗ lực hòa giải với các giáo hội Tin Lành suốt ba thập niên trước đó.

Thực sự, vấn đề không thể coi là đơn giản vì chính Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là một trong những ÐGH sùng kính Ðức Mẹ nhất trong lịch sử giáo hội. Ngài đã xác tín rằng Ðức Mẹ Fatima đã cứu ngài thoát chết trong cuộc ám sát vào ngày kỷ niệm Ðức Mẹ hiện ra ở Fatima, 13 tháng 5, năm 1981. Trong các Tông Thư hay Thư Mục Vụ, ngài luôn luôn chúc tụng Ðức Mẹ và thường dùng những từ như Ðấng Trung Gian, Ðấng Bào Chữa hay ngay cả Ðấng Ðồng Cứu Chuộc để tôn vinh Ðức Mẹ. Tháng 5/1997, trong cuộc triều yết chung ở quảng trường thánh Phêrô, ÐTC đã đi ra ngoài Kinh Thánh để tuyên xưng rằng chính Ðức Mẹ là người đầu tiên đã nhìn thấy Chúa Giêsu sống lại. Ngài thêm rằng tuyên xưng điều này rất “phù hợp” (fitting) với vai trò của Ðức Mẹ.

Hơn nữa, Woodward và nhóm của ông đã viết thêm về những hiện tượng hiện ra và ảnh hưởng sâu rộng của Ðức Mẹ trong lịch sử giáo hội. Ðể tôn vinh Ðức Mẹ, người ta đã xây những đại vương cung thánh đường lừng danh trên thế giới như Nôtre Dame ở Paris, Hagia Sophia ở Constantinople, và Santa Maria Maggiore ở Roma. Qua Ðức Mẹ, những đại thi sĩ như Villon và Dante, đến Hopkins, Eliot, và Auden (ngay cả nhà thơ Hàn Mặc Tử của Việt Nam) đã tìm ra nguồn cảm hứng cho thi tác của họ. Trong lãnh vực âm nhạc, không tuyệt tác nào về Ðức Mẹ hay hơn khúc “Ave Maria” của Schubert. Các tuyệt phẩm về họa đa số đều vẽ cảnh Truyền Tin và cảnh Ðức Mẹ bồng Ðức Chúa Con.

Thế kỷ XX phải được gọi là thế kỷ của Ðức Mẹ. Hầu như khắp các lục địa người ta đã bá cáo trên 400 cuộc “hiện ra” của Ðức Mẹ (tài liệu của Miravalle), nhiều hơn là tổng số lần hiện ra của ba thế kỷ trước cộng lại. Những thông điệp này được phong trào nói trên, mà Miravalle là một trong những người chủ trương, diễn giải rằng đã nói lên thiên kỷ sắp tới là thời đại của Ðức Mẹ (Age of Mary) mà tín điều do ÐTC công bố sẽ xác định sự “hiền mẫu trung gian” (maternal mediation) của Ðức Mẹ giữa Thiên Chúa và loài người. Phong trào đã thêm Medjugorje (cựu Nam Tư) là địa điểm hành hương cùng với FatimaLourdes (Lộ Ðức), mặc dù các sự hiện ra ở Medjugorje đã chưa được giáo hội chính thức công nhận. Tuy nhiên, số người được nhận “thông điệp” mỗi ngày một nhiều hơn và hầu như đã trở thành “lạm phát” khiến nhiều người trở nên hoang mang.

Ở lãnh vực khác, những kẻ thích làm chính trị trong giáo hội cũng đang cố “kéo” Ðức Mẹ về phía của mình. Nhóm phụ nữ đòi quyền bình đẳng (feminists), 20 năm trước đã gạt Ðức Mẹ ra ngoài và gọi Mẹ là “Ðức Mẹ Ðồng Trinh Ðàn Áp” (Oppressive Virgin Mother) do hàng giáo phẩm tạo nên, thì nay đã trở giọng tuyên xưng Ðức Mẹ là một “phụ nữ tự do” (free woman) đã chọn sự “xin vâng” với Chúa trong cuộc truyền tin, trong khi bà Eve chọn sự bất tuân lệnh của Chúa trong vườn địa đàng. Nhờ sự “xin vâng” này của Ðức Mẹ (một phụ nữ) mà đã có lịch sử ơn cứu rỗi. Cả những nhà “thần học giải phóng” thuở đó cũng “tìm thấy” một Ðức Maria khiêm nhường và là một biểu tượng của Chúa đang “đứng về phía những người nghèo.”

Nhóm viết bài cùng với ông Woodward đã đi xa hơn và diễn giải rằng bí mật về sức mạnh (hay ảnh hưởng) nhiệm mầu của Ðức Mẹ có lẽ vì Ðức Mẹ không có một lịch sử riêng cho mình. Ðức Mẹ đã “lôi cuốn” (entices) từng thế hệ mới, hình dung về Mẹ. Các thánh sử cũng chỉ viết sơ sài về Ðức Mẹ. Mác-cô cho rằng Ðức Mẹ đã không hiểu hay không đồng ý về những việc Chúa đang làm; Mát-thêu ghi nhận cuộc giáng sinh; Luca trình bày Ðức Mẹ như một tì nữ trung tín của Chúa và là phát ngôn nhân của những kẻ lạc loài (outcast). Trong Phúc Âm của thánh Luca, Ðức Mẹ đã được tuyên xưng là “đầy ơn phúc” và “mọi thế hệ sẽ gọi Mẹ là có phúc.” Trong Phúc Âm của thánh Gioan, chỉ một lời yêu cầu của Ðức Mẹ mà Chúa đã biến nước thành rượu, phép lạ đầu tiên. Cũng thánh Gioan đã ghi lại việc Ðức Mẹ đã đứng dưới chân thánh gía, chứng tỏ Mẹ cũng là một tông đồ của Chúa.

Từ những ghi nhận đơn sơ này, vai trò của Ðức Mẹ đã từ từ trở nên quan trọng hơn. Mẹ đã thu nhập và biến đổi những nữ thần ngoại giáo mạnh mẽ nhất. Mẹ là Ðức Mẹ đã ban sự sống, nhưng cũng là “Pietà” đã nhận sự chết. Một khi thuyết khổ hạnh (asceticism) đã trở thành ‘đường nên thánh’ trong Kitô giáo, Ðức Mẹ đã trở nên “trọn đời đồng trinh”, gương mẫu của đức thanh sạch và sự tự từ bỏ. Năm 431, ở Công Ðồng Ê-phê-sô (Ephesus) Ðức Mẹ đã được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Từ đó, các nhà thần học đã không ngừng nỗ lực tìm kiếm những ý nghĩa mầu nhiệm về Ðức Mẹ trong Kinh Thánh.

Thời Trung cổ, sự ảnh hưởng của Ðức Mẹ càng mạnh mẽ hơn. Trong khi các nhà thần học đang cố công diễn giải thứ tự và sự bình đẳng trừu tượng của Thiên Chúa Ba Ngôi thì vai trò của Ðức Mẹ đã ảnh hưởng sâu rộng, đặc biệt trong giới người nghèo. Mẹ đã trở thành hình ảnh nhân lành của Mẹ Thiên Chúa. Từ đó đã có niềm tin rằng Ðức Mẹ nhân lành đã không vương mắc tội tổ tông. Niềm tin đó đã trở thành tín điều ở thế kỷ thứ 19, khi ÐGH Piô IX đã công bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội, năm 1854. Ðã có sự chống đối mạnh mẽ trong các hệ phái Tin Lành. Cùng lúc, thuyết Thế Tục (Secularism) cũng đã gây ảnh hưởng nhiều hơn. Trước những nguy nan đó, giáo hội Công Giáo Âu Châu đã chạy đến với Ðức Mẹ. Ðối với con người kinh tế của Karl Marx, siêu nhân của Nietzsche, và tà thần (Faust) của Goethe, giáo hội đã trình bày một phản chứng mang nữ tính: một người mẹ lo âu và phán quyết, đã cảnh báo nhân loại về thảm họa chiến tranh nếu nhân loại không ăn năn và cải đổi. Các cuộc “hiện ra” đã gia tăng, đặc biệt với những trẻ con miền đồng quê như ở LourdesFatima. Hàng trăm dòng tu nam, nữ đã được thành lập và tất cả đã, bằng cách này hay cách khác, được dâng hiến cho Ðức Mẹ Vô Nhiễm.

Khoảng giữa thế kỷ XX, những đền thánh cho Ðức Mẹ “da đen” như ở Guadalupe,

Mexico; Montserrat ở Spain; và Czestochowa ở quê hương Ba Lan của ÐTC Gioan Phaolô II đã nói lên các căn tính quốc gia và tôn giáo. Ðến khi tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được công bố vào Năm Thánh 1950 thì Ðức Mẹ đã trở thành cột sống của nền văn hóa Công Giáo. Ở Công Ðồng Vatican II trong thập niên 60’s, một công bố đặc biệt về Ðức Mẹ đã được đề nghị và những từ như Ðồng Cứu Chuộc, Ðấng Trung Gian đã được nhắc tới. Nhưng đa số nghị phụ, đặc biệt những vị nghiêng về Kinh Thánh, đã không đồng ý, các ngài lo ngại những điều đó sẽ đưa đến việc “tôn thờ” Ðức Maria (Mariolatry).

Woodward và nhóm của ông viết tiếp rằng cũng như trong qúa khứ, khuôn mặt của Ðức Maria hiện tại là phản ảnh của thời đại. Trong khi thế giới tiến gần tới thiên kỷ mới, Ðức Maria xuất hiện (hay được trình bày) như một nhân vật tiên tri, tiên đoán về thế tận. Mỉa mai thay, những người Công Giáo lên tiếng mạnh mẽ nhất về một tín điều mới đã có những tư tưởng không khác gì những người Tin Lành qúa khích (fundamentalists) đã giảng về ngày tận thế. “Nếu chúng ta từ chối (tín điều về Ðức Mẹ), tôi nghĩ rằng thử thách, bắt đạo, và thảm họa sẽ theo sau.” Nữ tu Angelica đã nói như vậy trên chương trình truyền hình trực tiếp “Mother Angelica Live” của bà. Bà tin rằng: “Nếu ÐTC công bố tín điều này, thì thế giới sẽ thoát khỏi đại họa và đem lại lòng thương của Chúa nhiều hơn cho trái đất.”

Giáo hội Công Giáo từ hàng thế kỷ đã từ chối những tiên đoán về thế tận, đặc biệt là những tiên đoán đến từ các mạc khải tư, nhưng thỉnh thoảng vẫn có những nguời làm công việc này. Ông bà Ted và Maureen Flynn, được coi như những “chuyên viên” về các sự hiện ra, đã góp nhặt tất cả những thông điệp của Ðức Mẹ (được giáo hội công nhận cũng như không được công nhận) từ cả một thế kỷ nay để tạo thành một khung cảnh thiên kỷ. Họ tiên đoán về những cảnh báo siêu nhiên, phép lạ đại nhất thế giới, theo sau là ba ngày tối tăm mà họ gọi là “cuộc sửa phạt vĩ đại” (the great chastisement).

Những người chống lại việc xin công bố tín điều mới về Ðức Mẹ như nhà Thánh Mẫu học Pháp, René Laurentin, đã cho việc thỉnh nguyện trên là phi Kinh Thánh và là một điều sỉ nhục (affront) cho cái chết cứu rỗi đặc biệt của Chúa Kitô. Ðiều này đã khiến nhóm của Woodward đi đến kết luận rằng hiện đang có sự tranh chấp lớn trong giáo hội để được lòng ÐTC. Nhưng ÐTC có sự khôn ngoan riêng của ngài. Dù sao, nhóm thỉnh nguyện vẫn còn là thiểu số, bốn triệu người trên tổng số một tỷ - một ngàn triệu - giáo dân (theo thống kê lúc đó, 1997) chưa hẳn đã là con số lớn. Ngoài ra, còn khoảng 2,700 ÐGM và ít nhất 90 ÐHY đã chưa lên tiếng về việc này.

Kể từ khi giáo hội công bố về quyền bất khả ngộ của ÐGH năm 1874, chỉ một lần duy nhất quyền này đã được xử dụng để công bố tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, do ÐGH Piô XII vào dịp Năm Thánh 1950. Năm 2000 đã là Ðại Năm Thánh (Jubilee: Ðại Năm Thánh được cử hành cứ mỗi 100 năm; và Năm Thánh – Holy Year – cho mỗi 25 năm) thời điểm thuận tiện nhất cho việc công bố tín điều mới. Nhưng ÐTC Gioan Phaolô II có lần đã công nhận rằng quyền bất khả ngộ của giáo hoàng đã là một trở ngại lớn cho việc hòa đồng giữa các giáo hội Kitô. Mặt khác, ngài cũng nhìn thấy thế giới đã sa vào một nền “văn hóa của sự chết” rất đúng lúc để trình bày quan niệm về Ðức Nữ Trinh thiên kỷ (Millennial Madonna). Một cách chắc chắn, ÐHY O’Connor của New York đã viết rằng ÐTC sẽ tìm ra ngôn ngữ cho tín điều mới về Ðức Mẹ mà không làm cho các anh em Tin Lành phiền lòng. Nhưng có vị khác, như LM John Roten chủ tịch Viện Nghiên Cứu Thánh Mẫu Học ở đại học Dayton, đồng thời cũng là một trong 23 vị đã đề nghị ÐTC không nên công bố tín điều này, đã nói rằng: “Tại sao phải làm phí phạm quyền bất khả ngộ cho điều không lấy gì làm quan trọng?” Và vị LM này “đề nghị” ÐTC chỉ lập một ngày lễ mới, hay tạo một tước vị mới cho Ðức Mẹ thay vì “đi đến chỗ thái qúa và công bố một tín điều.”

Nhóm Woodward kết luận rằng “Nếu Hồn Xác Lên Trời đã là một tín điều, Ðức Maria đã có những gì mà các Kitô hữu chỉ hi vọng được hưởng, như sự tái hợp với Con của Mẹ (Chúa Kitô) trong vinh quang của Ðức Chúa Cha bởi năng quyền của Ðức Chúa Thánh Thần. Còn gì hơn nữa cho bất cứ bà mẹ nào?”

THÁI ÐỘ CỦA CHÚNG TA

Bài viết trên, được đăng trên tờ báo “đời” như tuần san Newsweek, đã được coi là tương đối khách quan vì nó đã không viết một chiều, hay công kích giáo hội Công Giáo cách cực đoan như nhiều tờ báo khác. Hiển nhiên những người viết này đã có, hay được cố vấn bởi những người có kiến thức thần học, nhưng chắc chắn vẫn còn những thiếu sót hay lệch lạc, do sự vô tình hoặc cố ý, tùy theo mục đích riêng của nhóm người viết, hay của tờ báo. Người đọc cần nhận chân ý nghĩa của từng phần trong bài báo này.

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài cùng ngày
Lễ Đức Mẹ Sầu Bi (15.9): Mẹ Đứng Đó (9/15/2017)
Suy Niệm Ngày Lễ Đức Mẹ Sầu Bi - Lá Vàng Khóc Lá Xanh Đứng Gần Thập Giá Của Đức Giêsu, Có Thân Mẫu Người (gioan 19:25) (9/15/2017)
Tin/Bài khác
Thơ Kính Nhớ Đức Mẹ Sầu Bi (9/15/2017)
Cung Tình Trầm (lễ Đức Mẹ Sầu Bi, 15-9) (9/14/2017)
Tôn Kính Thánh Giá – Yêu Mẹ Sầu Bi (9/6/2017)
Hình Thánh Giá Và Mẹ Fatima Thánh Du, 19/9/2016 (9/26/2016)
Trái Tim Mẹ Sẽ Thắng, Lm Vĩnh Sang, Dcct (9/15/2016)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768