MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
73a-- Các Mầu Nhiệm Đời Mẹ Maria- Phần Vii -- Đức Maria Phải Chăng Là Đầu Mối Gây Chia Rẽ? #1
Chủ Nhật, Ngày 20 tháng 3-2022
Đức Maria phải chăng là đầu mối gây chia rẽ?

Nếu việc cử hành Thánh Thể – vốn là mầu nhiệm hiệp nhất (x. 1 Cr 10.17; 12.12-13) – đã là một đầu mối gây chia rẽ giữa các Giáo Hội, [1] thế thì chẳng lạ gì, vấn đề Đức Maria cũng không ngoại lệ, (việc ấy trên đây Ms. R.Schutz đã phác họa sơ qua). Bởi vị trí của mình trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, Người rất quan tâm đến phong trào đại kết các Giáo Hội ; vì thế nay đang được hưởng vinh quang cả xác hồn trên trời, chắc chắn Người cầu cho hiệp nhất các Kitô hữu, vì chức vị làm Mẹ nói lên điều ấy: người mẹ nào chẳng muốn các con mình quây quần dưới mái nhà và sống hòa thuận, thương yêu nhau?

Thế mà Người lại là một đề tài gây chia rẽ : “Thực là nghịch lý, khi niềm tin yêu tôn sùng Đức Trinh Nữ của người Công Giáo đối với nhiều Giáo Hội khác lại là một chướng ngại cho hiệp nhất”. (J.Guitton, sđd, 220). Ông nhận xét (Sđd, 185tt):

“Cho dù các vị Cải cách đầu tiên (của Thệ Phản) còn giữ được một số các tin tưởng của Công Giáo đối với Đức Trinh Nữ, thì cách chung, tư tưởng Thệ Phản đã phát triển theo chiều hướng chống đối nền Thần học về Thánh Mẫu. Bên Thệ Phản, Thánh Mẫu học đã cứ giảm dần dần cho đến mức chỉ còn giữ lại những điểm nào Kinh Thánh viết rõ ràng giấy trắng mực đen về Đức Maria, và các điểm này lại được giải thích chặt chẽ hết mức…

“… Đành rằng, sự khó chịu của người Thệ Phản đối với việc tôn sùng Thánh Mẫu bắt nguồn từ một nguyên nhân hữu hình (và họ cũng có lý một phần nào): đó là những thoái hóa, lệch lạc, lạm dụng sờ sờ ai cũng thấy của việc tôn sùng ấy…: Cứ nghe một số các bài giảng về Đức Maria, một số kinh Đức Maria, nhìn xem một số các cuộc hành hương, việc cầu khẩn xin ơn nơi các đền, các hang đá,… cũng đủ thấy cái phình to quá cỡ của lòng sùng kính ấy… Tuy vậy, các khuyết điểm, lệch lạc ấy không phải là lý do căn bản của sự đối chọi giữa hai Giáo Hội.

Có những lý do thâm sâu hơn và liên can đến bản chất của cuộc Cải cách Thệ phản: Đây các tín điều tuyệt đối của người Thệ Phản là:

          -Ơn sủng có địa vị tuyệt đối (Sola gratia)

-Công chính hóa chỉ duy bởi đức tin mà thôi (Sola fide)

Hai câu này trích từ KT, dĩ nhiên là đúng. Có thể nói là đã được rút ra từ chính lời dạy của ĐG, Ngài đã dạy đạo lý này cách đơn sơ bình dân qua dụ ngôn “Hai người lên đền thờ cầu nguyện” (Lc 18.9-14): Người Pharisêu trình bày những việc giữ luật và đạo đức ông đã có công làm được, trái lại người thu thuế biết mình tội lỗi, đấm ngực ăn năn và cầu xin Chúa thương xót. Thế mà phán quyết của Chúa là : “người (thu thuế)  này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính, còn người (Pharisêu) kia thì không !”

Th.Phaolô giải thích:

“Người nào làm (các) việc (giữ luật và đạo đức), thì công trả cho người ấy không kể là ơn mà là nợ (người Pharisêu trên kia nêu ra các việc đạo đức ông làm để kể công với Chúa, coi như Chúa mắc nợ ông ta) 5 Trái lại người nào không cậy vào các việc làm nhưng tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ vô đạo (tội lỗi) nên công chính (đó là thái độ người thu thuế), thì lòng tin làm cho người ấy được Thiên Chúa kể là công chính.” (Rm 4.4).

Th.Phaolô đã hiểu ý Chúa và đã viết thành những công thức đanh thép:

21“Nhưng nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến Luật Mô-sê. Điều này, sách Luật và các ngôn sứ làm chứng. 22 Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai. 23 Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, 24 nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban dưng không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Ki-tô Giê-su.” (Rm 3.21-24)

16 “…Vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giê-su, để được nên công chính, nhờ tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy. Quả thế, không phàm nhân nào sẽ được nên công chính vì làm những gì Luật dạy.” (Gal 2.16)

“Quả vậy, chính do ân sủngnhờ lòng tin mà anh em được cứu độ : đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa ; 9 cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện.” (Ep 2.8-9)

Đạo lý này, ai cũng biết, có điều là bên phía Công giáo, cách riêng có một thời, người ta hơi lơ là và không nhấn mạnh đủ vào lòng tin, nhưng trong thực hành đã chú trọng nhiều vào việc lập công bởi việc giữ luật và làm các việc đạo đức… Quả thật GH Công giáo nên canh chừng kẻo rơi vào cám dỗ tin cậy vào những luật lệ, tập tục, việc đạo đức như một bảo đảm cứu độ. Phải đọc lại thư Th.Phaolô gửi cho giáo đoàn Galát, trong đó ông cho biết có một số Kitô hữu gốc Do Thái, đến tuyên truyền cho tín hữu Galát rằng : muốn đảm bảo chắc chắn được cứu độ thì tin suông mà thôi chưa đủ, phải làm những luật Môsê dạy, ít nhất là việc cắt bì. Th.Phaolô đã phản kháng một cách mãnh liệt : Như thế là làm cho cái chết thập giá của Chúa Kitô trở thành vô ích, vì ơn cứu độ là ân huệ dưng không, TC ban cho ai tin vào Chúa Kitô tử nạn và phục sinh. Con người vốn là kẻ tội lỗi nên hoàn toàn bất lực không thể làm bất cứ việc gì để cứu độ mình.   

Nói thế không phải là bây giờ bảo bỏ đừng giữ luật và đừng làm các việc đạo đức, song bảo không nên coi các việc ấy có sức tạo nên sự công chính hóa (= cứu độ) cho mình, đó là điều mà các đoạn KT trên kia đã khẳng định.

Không bỏ các việc giữ luật và đạo đức đâu, trái lại rất cần làm, nhưng làm các việc ấy một là để chuẩn bị cho việc tin, hai là sau khi đã tin và được nên công chính rồi thì làm các việc ấy để bảo vệ, vun trồng đức tin đã có kia được sống và nên mạnh mẽ. Th.Giacôbê dạy :

14 “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì ? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng ? […]

17 Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết. 18 Đàng khác, có người sẽ bảo : “Bạn, bạn có đức tin ; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin. 19 Bạn tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Bạn làm phải. Cả ma quỷ cũng tin như thế, và chúng run sợ.” 20 Hỡi người đầu óc rỗng tuếch, bạn có muốn biết rằng đức tin không có hành động là vô dụng không ?” (Gc 3.14-20)

Nhưng đạo lý nói trên, bên phía người Thệ phản, thì lại được đưa đến mức cực đoan :

“Người Thệ Phản cảm nhận sâu sắc nỗi bất lực của con người không thể vượt qua khoảng cách vô cùng cao xa giữa mình và Thiên Chúa, Đấng là chủ các ơn sủng. Họ cảm thấy sâu sắc họ là kẻ có tội, và bị kết án từ căn gốc. Nhưng họ cũng biết rằng, bởi tin vào Đức Kitô, họ đã được cứu rỗi. Trong Đức Kitô, cái khoảng cách trên kia nay được lấp đầy. Thành ra mặc dầu tội lỗi (?!), họ thực tế ở trong một tình trạng yên tâm, chắc chắn được cứu rỗi.

“Họ không thấy cần một sự trợ giúp hay cầu bầu nào khác. Không thể đặt một cái gì, (hay một người nào) trung gian giữa Thiên Chúa và chúng ta, bởi vì vật trung gian ấy sẽ cho con người một phương tiện nào đó, một quyền nào đó, một đường lối nào đó đến Thiên Chúa: làm như thế loài người có thể dùng một xảo thuật hay một mưu kế linh thiêng để chiếm được ơn sủng và phần rỗi. Đang khi ơn sủng là do một mình Thiên Chúa ban.

“Sự nương tựa mà người Công Giáo xem ra mong tìm được trong lời “xá giải” của linh mục, trong những thực hành được hưởng “ân xá”, trong sự bảo hộ của các thánh, cách riêng trong sự bầu cử đầy thương xót của Đức Maria, thì người Thệ Phản tìm được trong chính hành vi tin mà họ luôn luôn lặp đi lặp lại.”

Có thể nói rằng: xác tín sẽ được cứu rỗi chung tất, dù có xảy ra sự gì hay ai có làm gì, mà (từ thời Trung Cổ) lòng trông cậy nơi Đức Trinh Nữ ban cho các người tôi trung của Người, thì người Thệ Phản tìm được nơi lòng trông cậy của họ là sẽ được áp dụng cho mình các công nghiệp của Đức Kitô.

Tín lý căn bản của Cải cách Thệ phản đặt cơ sở trên ý tưởng một sự bất lực thâm căn cố đế của bản tính nhân loại không thể chiếm được Thiên Chúa. Ơn sủng, theo quan niệm của họ, không thấm vào thâm tâm con người: nó chỉ bao phủ họ và công chính hóa họ (từ bên ngoài).

“…Họ đem áp dụng luật chung ấy cho Đức Maria. Người cũng ở trong thân phận của loài thụ tạo. Đã đành Người lãnh được ơn sủng có một không hai, nhưng nội tâm thâm sâu của Người cũng ở bên ngoài ơn sủng kia (=Người vẫn y nguyên là thụ tạo tội lỗi), ơn sủng kia chỉ như một chiếc áo khoác ngoài bao phủ lấy tâm hồn của Người.

“Như thế, người Thệ Phản tách biệt sự siêu việt tuyệt đối của Thiên Chúa khỏi sự hèn hạ của thụ tạo, họ bảo vệ sự siêu việt ấy đến mức không thể nghĩ có thể có một sự hòa trộn, kết hiệp thâm sâu giữa ơn sủng Thiên Chúa và loài người được. Thụ tạo tội lỗi vẫn giữ nguyên bản chất ấy của mình, song họ được Máu Chúa Giêsu che phủ trước mắt Chúa Cha, được coi là công chính trước mặt Người”.

Phải nghĩ sao về lập trường của họ ?

Cha Paul Hitz phê bình: “Người-được-cứu nhận lấy ơn cứu độ của Thiên Chúa như một miếng gỗ hay một cục đá, mà không bị thay đổi gì bên trong cả, cũng không làm tỏa sự cứu độ ấy ra bằng những hoa quả sự sống hay việc lành, việc nghĩa… như thế họ hiểu sai cách trầm trọng quyền năng sáng tạo và xây dựng con người của tình yêu Thiên Chúa…”

Tới đây cha Paul Hitz trích một đoạn của L. Bouyer, là một Mục sư Tin Lành, đã cải đạo theo Công giáo. (Du Protest. à L’Eglise):

“Nếu ân sủng Thiên Chúa chỉ vẫn là ơn sủng với điều kiện nó chẳng ban cho ta cái gì thực sự ; nếu người có lòng tin – bằng đức tin cứu rỗi – chẳng hề được thay đổi chút gì so với tình trạng của họ trước khi tin… Nếu Thiên Chúa chỉ có thể thống trị bằng cách bắt tạo vật phải im lặng, nếu Ngài chỉ hoạt động bằng cách làm cho tạo vật thành tiêu tan, ngay cả nếu Lời của Ngài cũng bị kết án không bao giờ được con người nghe thấy thật sự – thì ta phải kết án không những cái nỗ lực kiêu ngạo của con người cả dám muốn đạt tới Thiên Chúa, mà còn chính cái con đường Thiên Chúa thương xót muốn mở xuống với con người cũng bị chặt đứt…

“Và rốt cuộc, chính cái đó và chỉ cái điểm đó mà Hội Thánh Công Giáo chê trách Thệ Phản, chính điểm đó mà Hội Thánh Công Giáo từ chối không chấp nhận, và không có quyền chấp nhận nhân danh chính Lời Thiên Chúa mà họ nại đến uy quyền tối thượng…” [2]

          Nhưng ngày nay, có nhiều nhà Thần học Thệ Phản công nhận lập trường của Công Giáo.

***

Phân tích sự kiện trên dẫn ta đến nhìn nhận:

Công Giáo và Thệ Phản sử dụng các phương thức không giống nhau khi khảo sát và giải thích các dữ kiện Kinh Thánh về vấn đề Thánh Mẫu: các anh em ly khai chủ trương bám sát bản văn Thánh Kinh không thêm không bớt; các Thần học gia Công Giáo lại đề xướng phương pháp đào xới ý nghĩa đầy tròn của Thánh Kinh (xem lại Phần ??).

Phải chăng sự đối nghịch giữa hai đường hướng ấy là điều không thể hài hòa được sao?

Phần chúng tôi nghĩ rằng “không”, với điều kiện hai bên đừng đưa mình vào lập trường cực đoan.

 



[1] Xem I.C.I. số 562, 1981: Présence rélle dans l’hist., enjeu oecuménique, trang 34-37.

[2] Trích: Pl Hitz, Sotériol. Chrét. đã dẫn, trang 243.

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài khác
Kinh Do Một Đọc Giả Www.memaria.org Gửi Tặng (6/17/2021)
Tình Mẹ Còn Mãi, Lm Tạ Duy Tuyền (3/31/2021)
Đối Thoại Truyền Tin, Lm Giuse Nguyễn Hữu An (3/31/2021)
Cn 3982: Thiên Thần Tại Linh Địa Akita (1) (1/11/2018)
Cn 3922: Cuộc Hiện Ra Của Đức Bà Thành Công (our Lady Of Good Success) #2 (7/25/2017)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768