MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
75 -- Các Mầu Nhiệm Đời Mẹ Maria- Phần Vii -- Đời Sống Thờ Phượng Của Đ.maria #1
Thứ Tư, Ngày 16 tháng 3-2022
ĐỜI SỐNG THỜ PHƯỢNG CỦA Đ.MARIA

 

Cha M.V.Bernadot (sđd, 115-124) nói về nếp sống thờ phượng của ĐG và Đ.Maria đại khái như sau:

“ĐG nói với phụ nữ Samari: “Giờ đã đến, các kẻ thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật. Chúa Cha muốn có những kẻ thờ phượng như thế” (Ga 4.23-24).       

 ĐG đã xuống thế để chiêu tập và đào tạo những kẻ thờ phượng trong Thần Khí và sự thật, sự thờ phượng hoàn hảo, mà Cha trên trời mong đợi [1] từ ngày sáng tạo vũ trụ. Tạo vật đầu tiên đã đáp lại nguyện vọng Chúa cách hoàn toàn là Mẹ Ngài.”

Thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật là thế nào?

Một lànhờ Thần khí” nâng trí khôn và ý muốn nhân loại của ta lên ngang tầm TC, [2] vì ta vốn là xác thịt thấp hèn còn Người vốn là Thần khí siêu việt (Ga 4.23-24), để ta có thể và được phép gặp TC và sống mối tương quan Cha-con thân mật, nghĩa thiết, bao trùm tất cả đời sống của ta với TC trên trời; và nhờ Thánh thần dẫn dắt, ta sống và hành động mọi nơi, mọi lúc và trong mọi sự đều trong hiệp thông với TC; như vậy, cả đời sống trở thành một thờ phượng liên lỉ (x. 1Cr 10.31; Cl 3.17).

Hai là tôn kính Thiên Chúa và sống đúng theo “sự thật” là sống những chân lý ĐG đã đem từ Chúa Cha xuống mặc khải cho ta (Ga 7.16). Đó là sự thờ kính hoàn toàn bởi vâng phục và yêu mến, nhờ sức thúc đẩy của Thánh Thần…

a) ĐG đã thờ phượng như thế. [3] Đời nội tâm Ngài là việc thờ phượng liên lỉ. Trong Ngài có một sức kéo Ngài hạ mình trước Chúa Cha, và xuống thẳm sâu hư không trong mình Ngài. Vì về phần nhân tính, ĐG cũng là tạo vật và hư vô, Ngài lãnh nhận từ lòng rộng rãi Thiên Chúa tất cả sự toàn thiện của mình, nên Ngài tràn đầy bỡ ngỡ trước bao đặc ân nhận được trong nhân tính, Ngài thấy cần phải biết ơn luôn mãi về sự phong phú tràn trề ấy của quyền cao cả Thiên Chúa, Ngài vui sướng được chúc tụng, tuyên xưng sự toàn thiện vô hạn của Thiên Chúa [4], và được thỏa nguyện và toại trí trong đó.[5] Và cảm thấy một mong muốn mạnh mẽ hy sinh tận hiến để làm vinh hiển Thiên Chúa. Vì thế, ngày đến trong trần gian Ngài đã thốt lên “Lạy Cha, này con đến để thi hành ý Cha”.

b) Trong thâm tâm, Mẹ Maria kết hợp chặt chẽ với sự thờ phượng của Con mình. Khi gặp người chị họ, Mẹ hạ mình khiêm nhường để tạ ơn và tán dương TC: “Chúa đã khấng đoái nhìn phận hèn của nữ tỳ Ngài”, Mẹ thấy Thiên Chúa cúi mình trên yếu đuối tự nhiên của Người, ban tràn đầy ơn sủng và đức trinh khiết cho Người để làm Người nên kiệt tác của Chúa, làm Mẹ của Con Chúa. Tất cả những cái đó là ân huệ biếu không của tình yêu Chúa… Do đó Đức Mẹ tìm kiếm sự vâng phục, nhất là sự vâng phục khiến Người phải hạ mình, để nhờ những sự hạ mình ấy, dâng lên oai nghi Thiên Chúa sự trọng kính không ngừng… Như Giêsu, Người sẽ phó mình cho thánh ý Chúa. Người sẽ hiến mình, sẽ đau khổ cùng với Giêsu.

          Mẹ Maria muốn đem ta kết hợp với sự thờ phượng ấy… Thiên Chúa, Đấng vô biên, trước mặt Ngài, mọi tạo vật đều hư vô: nên sự công bằng đầu tiên đòi ta thờ lạy Ngài. Dù người tín hữu chỉ hiểu sơ về Thiên Chúa, họ cũng cảm thấy cần phải phủ phục mà thờ lạy. Sự thờ lạy khiêm cung và đầy yêu mến ấy là tuyệt đỉnh của sự thờ phượng”.

Và từ đó tràn lan ra cả đời sống để tất cả đời sống đều là thờ phượng, như Cha M.Zundel nói: “Sự thực thì tất cả cuộc sống : công việc, nghỉ ngơi, những giao tế hằng ngày của con người với nhau, là thờ phượng, không cần gì hơn nữa để hiệp thông với Chúa, chỉ cần mỗi hành động mặc lấy sự hiện diện của Thiên Chúa và truyền đạt nó. Nếu có những lúc chúng ta tụ tập lại ở nhà thờ, đó không phải là để tách ta ra khỏi cuộc sống, nhưng những lúc ấy chính là để lưu hành tốt hơn sự dư đầy của cuộc sống đó…” (“Sống với Chúa trong cái thường ngày”, tập 2, tr.16-17, UBĐKCG, 1990).

 

***

 

ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN CỦA ĐỨC MARIA

Trong cuốn truyện giả tưởng “Đức Giáo Hoàng mất tích” và “Đức Giáo Hoàng lại xuất hiện” (của A.Bessière), Đức Giáo Hoàng Hyacinthe có nói một câu: “Nếu bạn chỉ đức tin, bạn có thể mất, còn nếu bạn sống đức tin, bạn sẽ không sợ mất”. Vì người ta chỉ mất cái gì mình có, chứ không thể mất cái mình sống. Về điểm này, ĐTN Maria là điển hình tuyệt vời. Như ta đã xem, khởi đầu với lời ca ngợi của bà chị Êlidabét (“Phúc cho em là người đã tin…”, Lc 1.45), cả truyền thống KT, Giáo phụ cho chí Huấn quyền của HT đều nhất trí ca ngợi đời sống đức tin của Đ.Maria.

ĐTN Maria không những là Mẹ ĐK và là người đại diện trước mặt Ngài cho nhân loại đang cần ơn cứu rỗi, Người còn là môn đệ đầu tiên của ĐK, và là chứng nhân cao cả cho ĐK bởi lòng tin thuần khiết và mãnh liệt của mình. Như thế, Người là gương mẫu hoàn hảo cho đời sống đức tin. Văn hào Kierkegaard kêu lên:

“Than ôi! Từ lâu rồi không còn mấy đức tin nữa trên thế giới, mà vì vậy nó không còn lay động được thế giới.” [6]

Đức tin không chỉ là một sự nhắm mắt phục tùng trước những mầu nhiệm khó hiểu TC mặc khải cho ta. Nhiều người vẫn tưởng thế. Thực ra, đức tin là một sự giác ngộ, một hiểu biết, một soi sáng do TC ban vào tâm trí ta ngày lãnh Bí tích Thánh Tẩy, để có phận sự hướng dẫn ta ngang qua các tối tăm, các lý thuyết lầm lạc của thế trần này, ngõ hầu một ngày kia triển nở thành chiêm kiến hạnh phúc TC Ba Ngôi.

Đức tin không phải cặp kính cận đeo vào mà chữa đôi mắt cận thị của ta. Phải ví nó như “cặp mắt thần”, cặp mắt của chính TC, của ĐK, gắn vào linh hồn ta, cho phép ta nhìn thấy mọi điều mà người khác không thấy, và xét đoán đúng mọi sự theo nhãn giới của TC và CK:

“Tin là cách chiếm hữu những điều còn trong hy vọng, là phương nhận thức các thực tại người ta không thấy…” (Hr 11.1).

Có mắt chưa đủ, cần phải mở ra. Đáng buồn là ta luôn mở to đôi mắt của thân thể, của trí óc, mà không mở to đủ cặp mắt của linh hồn. Cho nên ta nhìn sai sự vật, không nhìn theo góc độ đời đời – là góc độ rốt cục độc nhất để nhìn cho đúng theo sự thật. Nói cách khác, chúng ta nhìn theo hiện tượng, dáng vẻ bề ngoài dễ đưa tới lầm lẫn. Lm. De Lubac viết: “Đức tin phải xuyên qua các dáng vẻ bên ngoài. Chính điều đó làm đức tin đôi khi trở nên rất cay cực. Nhìn theo dáng vẻ bề ngoài, đó là một giải pháp dễ dãi, đức tin thì đi ngược lại”. Xưa Đ.Maria cũng phải sống dưới chế độ đức tin y hệt như ta, vì thế mà Người gần gũi với ta.

Phần ĐK, đã hẳn Ngài là “Đấng khơi nguồn và hoàn thành đức tin của ta” (Hr 12.2), Ngài đã mặc khải cho ta mầu nhiệm cứu độ do tự Chúa Cha. Mầu nhiệm cứu độ này, Ngài đã thể hiện trước tiên nơi bản thân Ngài bởi chết và sống lại, thư Hipri nói : “Ngài đã phải đau khổ dãi dầu … (mới) trở nên thành toàn” (Hr 5.9; x.2.10). Ngài là Thủ lãnh đi trước ta và hướng dẫn ta bằng ân sủng trong các cuộc chiến vì đức tin. Ngài khơi nguồn và kiện toàn đức tin ấy trong ta và ban phần thưởng đức tin ấy trong vinh quang.

Nhưng phải nói rằng ĐG Kitô lại không là gương mẫu cách đồng-tính (homogène) về đức tin cho ta, vì các mầu nhiệm mà ta tin, thì Ngài nhìn thấy rõ ràng trong linh hồn đầy tràn ánh sáng, và có lẽ là ánh sáng của “sự hưởng kiến” (vision béatifique) [7], Ngài không phải tin các điều ấy một cách mù tối như ta. Về khía cạnh này, Ngài không hoàn toàn đồng một bình diện với ta, Ngài có những đặc ơn khác chúng ta do bởi sự kết hiệp ngôi vị (union hypostatique) với Đấng Lời TC.

Còn Đ.Maria, Người thực là gương mẫu đồng tính với ta:

Đ.Maria cũng đi trên con đường đức tin như ta. Người cũng cùng ở một trình độ như ta. Song Người sống đức tin thế nào mà nên gương mẫu cho ta ? TM theo thánh Luca đã nêu lên và nhấn mạnh đến lòng tin của ĐTN như một nét nổi bật trong dung mạo của Người. Đến nỗi bà chị họ Elidabét đã phải khâm phục: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

Đức Giáo Trưởng Gioan-Phaolô 2, trong Thông điệp MĐCT (số 14t) có viết: “Trong kế hoạch cứu độ TC đã mặc khải, niềm tin của Abraham là khởi điểm của Giao Ước cũ, thì trong biến cố Truyền tin, niềm tin của Đ.Maria khai mào Giao Ước mới. Xưa kia, Abraham “mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc” (Rm 4.18), thì Đ.Maria cũng vậy, trong giây phút được Thiên sứ truyền tin là sẽ thụ thai và sinh con, –  tình thật mà nói, đối với một thiếu nữ mới lớn, đó là một tin sét đánh ! – vậy mà sau khi lời thắc mắc về tình trạng đồng trinh của mình (“Làm sao có chuyện ấy được vì tôi không biết đến việc vợ chồng?”) được giải tỏa, và được xác quyết rằng việc đó là do quyền năng Đấng Tối Cao làm, thì Người đã tin và thưa với Thần sứ : “Vâng, tôi là nữ tỳ của Chúa, xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, và nhờ đó trở thành Mẹ của: “Hài Nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con TC” (Lc 1.35).

Rõ ràng niềm tin của Đ.Maria đã lên đến tuyệt đỉnh, và đó cũng là khởi điểm của tất cả hành trình đức tin của Người, và trên con đường này, sự tuân phục Lời TC mặc khải (bởi nói lời Xin Vâng) được thực hiện cách trổi vượt và thực sự anh hùng. Trong suốt cuộc hành trình đó, “sự tuân phục của lòng tin” của Đ.Maria có những điểm tương đồng lạ lùng với đức tin của Abraham.

Giống như vị Tổ Phụ của Dân TC “mặc dầu không còn gì để trông cậy, vẫn cậy trông”, Đ.Maria cũng vậy, Thiên thần truyền tin loan báo những điều vĩ đại về Người Con mà Người mang thai và sinh hạ, nào “Đức Chúa là TC sẽ ban cho Ngài ngai vàng vua Đavít, Tổ tiên Ngài”,“Ngài sẽ trị vì nhà Giacop đến muôn đời, và vương quyền của Ngài sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1.32-33), nhưng hiện tại Người chỉ toàn thấy nghèo khó, bần hàn và gian truân bắt bớ v.v…, chẳng có gì bên ngoài để trông cậy, để chống đỡ niềm tin… Vậy mà trong tình cảnh đen tối ấy, Người tin chắc rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với mình.”(Lc 1.45) Bởi vậy: “Nếu Abraham là cha các kẻ tin” (Rm 4.11-12), thì ta cũng có thể nói Đ.Maria là Mẹ các kẻ tin.

Hành động tin có nghĩa là “trao thân” cho chính sự thật của Lời TC hằng sống, mà trong lòng biết rõ và khiêm tốn nhận thức rằng “Quyết định của Người ai dò cho thấu; Đường lối của Người ai theo dõi được” (Rm 11.33), dầu vậy trong sự mờ tối của đức tin, Đ.Maria đã sẵn lòng chấp nhận hoàn toàn những gì nằm trong chương trình của TC.

 Trong ngày Truyền tin, Đ.Maria chắc chắn không hiểu được hết ý nghĩa lớn lao của những lời báo của Thiên Sứ, về địa vị cao cả của người Con mà Người sẽ sinh ra. Và cũng không thấu hiểu vai trò làm Mẹ “Đấng Thiên Sai” sẽ hay dở thế nào, nhưng với “sự tuân phục trong đức tin” một cách hoàn toàn tự do, Người vẫn trả lời: “Vâng, này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời Sứ thần nói” (Lc 1.38), chấp nhận những lời Truyền tin mà Sứ giả của TC đem đến cho mình.

*

Nhờ các trình thuật TM chỉ dẫn, chúng ta sẽ suy niệm những nét đặc biệt của đức tin của Đ.Maria:

a/ Như một lòng tin mau mắn vào sứ điệp của TC.

b/ Như một lòng tin chăm chú suy niệm mầu nhiệm TC.

c/ Như một lòng tin được rèn luyện bởi thử thách.

a/  Ai cũng biết Chúa chúng ta đòi hỏi gắt gao một niềm tin mau mắn, bởi vậy Ngài trách những ai cứ luôn đòi những dấu lạ điềm thiêng mới tin:

“ĐG nói cùng ông (Vương công): “Nếu các ngươi không thấy dấu thiêng điềm lạ, ắt các ngươi sẽ không tin” (Ga 4.48).

“Đáp lại, Ngài bảo họ: Thế hệ xấu xa và ngoại tình! Chúng đòi dấu lạ, nhưng sẽ không cho chúng dấu lạ nào, trừ phi dấu lạ tiên tri Giôna” (Mt 12.39).

Ngài tuyên bố là phúc cho ai tin không cần các dấu chứng:

“ĐG nói với ông (Tôma): Bởi thấy Ta, ngươi đã tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20.29).

Đ.Maria là người đầu tiên trong số những người có phúc vì đã tin không cần dấu chứng. Thánh Luca đã nêu nổi bật sự khác biệt giữa thái độ của ông Dakarya, cha của Gioan Tiền Hô, với thái độ của Thân mẫu ĐG trước lời báo tin cho hai người. Dakarya xin một dấu:

“Nhưng Dakarya đã thưa với Thiên thần: Sự ấy, làm sao tôi biết được? Vì tôi đã già rồi và vợ tôi cũng đã cao niên” (Lc 1.18).

Vì ông không tin nếu không có dấu chứng (“làm sao tôi biết được…”), nên TC đã ban cho ông một dấu, dấu này đồng thời lại là hình phạt: ông sẽ bị cấm khẩu. Còn Đ.Maria, nghe lời truyền tin, không đòi một dấu nào, không tỏ thái độ hoài nghi lời sứ giả TC, một thưa : “Xin thành sự cho tôi”.

Cũng như tổ phụ Abraham, Đ.Maria được mời tin vào quyền năng của TC, Đấng có thể làm cho lòng dạ tàn cỗi của Sara hồi sinh mà sinh con, lòng dạ của Elidabét già nua hiếm muộn có sức sống lại mà thụ thai, thì lòng dạ đồng trinh – lại càng tự nó không có sức sinh con – sẽ thụ thai và sinh con không cần đến người nam can thiệp. Abraham đã tin, và Đ.Maria cũng tin: vì nào có gì là quá khó đối với quyền năng của TC. Và sự việc đã thành tựu: “Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều cao cả, và Danh Ngài là Thánh”.

Niềm tin ấy đã nên gương mẫu cho ta: Quyền năng TC cũng có thể làm cho tâm hồn tàn cỗi vì tội lỗi và đam mê của mỗi người chúng ta sống lại, và có sức trổ sinh ĐG trong tâm hồn mình.

Chúng ta đừng ngạc nhiên nếu thấy Đ.Maria có đặt một câu hỏi : “Điều ấy sẽ làm sao (mà) được vì việc vợ chồng tôi không biết đến” (Lc 1.34), không phải là Người tỏ ra nghi ngờ, song cốt là để biết phải xử sự thế nào trong hoàn cảnh xảy đến cho Người: tuy đã gả cho Giuse thành vợ thành chồng trước luật pháp, nhưng chưa được rước về nhà chồng chung sống thì sao có thể thụ thai và sinh con! Chính câu hỏi đó đã đưa đường cho Thần sứ giải thích thỏa đáng. Và Maria đã chấp nhận.

Vì thế, khi được Thánh Thần soi sáng, bà Elidabét sẽ ca ngợi ĐTN là “người diễm phúc nhất trong nữ giới” (Lc 1.41-42). Diễm phúc bởi đã tin (Lc 1.45).

Đức Giáo Trưởng Gioan Phaolô 2 trong Thông điệp MĐCT (số 13) đã diễn giải sâu sắc điều này. Đại khái Ngài nói: Lòng tin là điều làm Đ.Maria có phúc! ĐG sau này cũng không nói khác: “Phúc cho ai tin dù không thấy” (Ga 20.29). Tại sao tin như thế lại có phúc? Tin có phúc vì đó là sự đáp lại khởi xướng tình yêu của TC. Đ.Maria đã đáp lại như thế. Như Công Đồng đã dạy: “Phải bày tỏ sự vâng phục của đức tin” đối với mặc khải TC (Rm 16.26; 1.5; 2Cr 10.5-6). Nhờ sự vâng phục đó, con người phó thác toàn thân cho TC. Định nghĩa đức tin này được thực hiện hoàn toàn nơi Đ.Maria trong giây phút “quyết định” ngày Truyền tin.

“Thực vậy, khi được Truyền tin, Đ.Maria hoàn toàn phó thác cho TC, bởi lòng “tuân phục trong đức tin” Đấng phán dạy qua lời Sứ thần, và dâng lên TC sự qui phục hoàn toàn của lý trí và ý chí. Như vậy, Người đã đáp lại bằng tất cả con người, con người phụ nữ, và sự đáp trả đức tin ấy bao hàm việc cộng tác tận tình với ân sủng của TC, đồng thời hoàn toàn sẵn sàng tiếp nhận tác động Thánh Thần”, … “và tận hiến làm tôi tớ TC, phục vụ cho thân thế và sự nghiệp của Con của Người.… Vì thế, lời bà Elidabét ca tụng Đ.Maria thật hợp lý: “Em thật diễm phúc, vì đã tin…”.

Và chính Con của Đ.Maria, trong một dịp đáng nhớ, cũng sẽ tuyên dương Người có phúc vì cùng một lý do:

“Đang khi Ngài nói thế thì giữa dân chúng, một bà cất tiếng nói với Ngài: Phúc cho lòng dạ cưu mang ông, và vú ông đã bú! Nhưng Ngài nói: Phải hơn phúc cho những ai nghe Lời TC và noi giữ” (Lc 11.27-28).



[1]  Những kẻ thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Cha trong Thần khí sự thật, Cha chỉ muốn gặp thấy những kẻ thờ phượng Người như thế” (Ga 4.23).

[2] Ngang tầm chứ không phải ngang bằng TC.

[3]     ĐHY Bérulle nguyện: “Từ đời đời đã Vị Thiên Chúa cùng đáng thờ phượng, nhưng chưa một người thờ phượng cách xứng đáng cùngGiờ đây, lạy Chúa Giêsu, Ngài chính người thờ phượng ấy, người Tôi Tớ đủ mọi sự cùng nào quyền năng, nào cách, nào xứng đáng để thi hành cái bổn phận thờ phượng cùng ấy để dâng lên lòng tôn kính cùng ấy”.

[4]  Chẳng ai tốt lành cả, trừ một mình Thiên Chúa”. (Lc 18.19)

[5]     Khi ý thức về mình cách ràng, thái độ của tạo vật ngạc nhiên trước sự hiện hữu của mình, run rẩy nhận thấy mình đã được chọn để hiện hữu, đó một sự tri ân tuyệt đối. Việc thờ phượng chẳng khác sự ý thức được cái tương quan nối ta với Đấng Tạo Hóa. đó nền móng của tôn giáo nếu xét cho đến cùng, cho đến tận cốt tủy của ” (J.Guitton, Sđd, 163).

[6] Cornelio Fabro, Foi et raison dans l’oeuvre de Kierkegaard, RSPT 32 (1948) 178.

[7] Như Ga 6.46 xác nhận: Không phải đã ai được thấy Chúa Cha, nhưng chỉ Đấng từ nơi Thiên Chúa đến, Đấng ấy đã thấy Chúa Cha”, Ngàinơi cung lòng Cha” (Ga 1.18). quan điểm cổ truyền cũng tin nhận như vậy, nhưng Hội Thánh còn để bỏ ngỏ vấn đề, thế tác giả chủ trương: trong đời sống thế tạm trước phục sinh, thân xác ĐG chưa được biến đổi thành thân xác thần thiêng” (x. 1 Cr 15.44-45), do đó xác thịt khí huyết(tức con người tự nhiên) không thể thừa hưởng (=vào) Nước TC được) (x. 1 Cr 15.50-53),  nên Ngài chưa được hưởng kiến. 

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài khác
Kinh Do Một Đọc Giả Www.memaria.org Gửi Tặng (6/17/2021)
Tình Mẹ Còn Mãi, Lm Tạ Duy Tuyền (3/31/2021)
Đối Thoại Truyền Tin, Lm Giuse Nguyễn Hữu An (3/31/2021)
Cn 3982: Thiên Thần Tại Linh Địa Akita (1) (1/11/2018)
Cn 3922: Cuộc Hiện Ra Của Đức Bà Thành Công (our Lady Of Good Success) #2 (7/25/2017)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768