MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
Chuyện Người Hành Hương (3)
Thứ Bảy, Ngày 13 tháng 7-2013

Chuyện Người Hành Hương (3)

Nguyên tác: Một Kitô hữu Nga

Biên dịch: Nguyễn Ước

Sau khi đi được chừng năm mươi cây số dọc theo đường cái, con nghĩ mình nên đi theo đường mòn để được cô đơn hơn và được yên tĩnh đọc sách hơn. Suốt một quãng thời gian dài, con đi trong rừng và hiếm khi vào làng nào. Thỉnh thoảng, con ngồi gần như suốt ngày dưới tàng cây đọc tỉ mỉ cuốn Philôkalia, và con kinh ngạc vì số lượng hiểu biết mà mình thu lượm được từ sách đó. Tâm hồn con rực cháy khát vọng hiệp nhất với Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện trong lòng, và con tha thiết học hỏi việc cầu nguyện ấy dưới sự hướng dẫn và tra xét của sách đó. Đồng thời con cảm thấy mình chẳng có một chỗ trú ngụ để lúc nào cũng được tĩnh lặng, miệt mài đọc sách.

Trong thời gian này, con vẫn đọc Kinh Thánh và cảm thấy mình bắt đầu hiểu Kinh Thánh rõ ràng hơn trước. Trước đây, trong Kinh Thánh có nhiều điểm con hiểu không ra và con thường là miếng mồi ngon cho lòng ngờ vực. Các Giáo phụ thánh thiện có lý khi nói rằng cuốn Philôkalia là chìa khóa mở những bí nhiệm của Kinh Thánh. Với sự giúp đỡ được cung cấp từ sách Philôkalia, con bắt đầu hiểu, tới một mức độ nào đó, những ý nghĩa sâu kín của Lời Thiên Chúa. Con bắt đầu nhận ra ý nghĩa của những lời như: "Con người bí nhiệm bên trong tâm hồn"; "Cầu nguyện chân chính thờ phượng trong tâm linh"; "Nước Thiên Chúa thì ở trong lòng chúng ta"; "Sự can thiệp của Thần Khí Thánh Linh với những thì thầm không thể nói thành lời"; "Hãy ở trong Ta"; "Hãy cho Ta con tim của ngươi"; "Hãy mặc lấy Đức Kitô"; "Sự hứa hôn của Thánh Linh với con tim của chúng ta"; tiếng kêu từ những chốn sâu thẳm của linh hồn, "Abba, Cha ơi!"; và vân vân. Và khi con cầu nguyện bằng tâm hồn cùng với những điều ấy trong tâm trí mình thì vạn vật chung quanh
con hân hoan và đẹp tuyệt vời. Cỏ cây, hoa lá, chim muông, mặt đất, không khí, ánh sáng, tất cả dường như nói với con rằng chúng hiện hữu vì lợi ích của con người, rằng chúng làm chứng tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người, rằng mọi sự đều chứng tỏ tình yêu thương mà Thiên Chúa ban cho con người, rằng vạn vật đang cầu nguyện Thiên Chúa và hát lên lời ca tụng Ngài.

Như thế, con nhận ra được điều mà sách Philôkalia gọi là "sự am hiểu ngôn ngữ của mọi loài", và con thấy được những cách thức qua đó mình có thể xúc tiến cuộc chuyện trò với mọi sinh linh của Thiên Chúa.

Trên lộ trình ấy của mình, con đi lang thang trong một thời gian rất dài, cuối cùng tới một quận hẻo lánh đến nổi con đi suốt ba ngày trời mà không gặp làng nào cả. Con đã dùng hết sạch bánh mì khô dự trữ và bắt đầu cảm thấy tinh thần xuống rất thấp với ý nghĩ mình có thể bị chết đói. Và con khởi sự bền gan cầu nguyện từ những chốn sâu thẳm của tâm hồn. Mọi sợ hãi của con tan biến và con phó thác mình cho thánh ý của Thiên Chúa. Tâm trí con trở lại bình an, tinh thần con lại phấn khởi.

Khi đi xa thêm một quãng dọc theo đường mòn ven rừng, con bỗng thấy có con chó từ trong rừng phóng ra, vọt lên chạy đằng trước con. Con gọi nó và nó tới gần con tỏ vẻ hết sức thân thiện. Con mừng rỡ nghĩ rằng đây là một trường hợp nữa của lòng lành Thiên Chúa! Thế nào cũng đang có một đàn súc vật thả ăn trong rừng và chắc chắn con chó này là của người chăn bầy. Hoặc có lẽ có ai đó đang săn bắn trong vùng này. Dù gì đi nữa, ít ra mình cũng có thể xin được miếng bánh mì vì đã nhịn đói suốt hăm bốn giờ qua. Hoặc ít ra mình cũng có thể tìm được nơi gần nhất có làng.

Sau khi con chó nhảy nhót quanh con một lúc, thấy con chẳng cho gì cả, nó phóng trở lại vô rừng theo con đường mòn nhỏ mà nó vừa từ đó chạy ra. Con đi theo nó vào sâu hơn chừng vài trăm thước. Nhìn theo cây cối, con thấy con chó chạy vô một cái hố rồi ngó ra và bắt đầu sủa. Cùng lúc đó xuất hiện trong tầm mắt con là một bác nhà quê tuổi độ trung niên, gầy ốm xanh xao, từ sau một thân cây lớn bước ra. Bác hỏi con từ đâu tới; còn con, con muốn biết tại sao bác lại ở đây. Và cứ thế, chúng con bắt đầu chuyện trò thân mật.

Bác đem con vô túp lều bằng đất của bác và nói với con bác là người gác rừng, trông coi các loại cây đặc biệt mà người ta có thể đốn lấy thứ gỗ bán được. Bác dọn ra trước mặt con bánh mì và muối, rồi chúng con bắt đầu nói chuyện. Con nói:

- Tôi hết sức ganh tị với bác. Bác được ở cô đơn một cách tuyệt vời trong chốn yên lặng này thay vì phải sống như tôi, lang thang hết nơi này nơi nọ và đụng chạm với đủ loại người.

Bác trả lời:

- Nếu anh muốn, anh cũng có thể dừng chân ở chỗ này. Lều của người gác rừng trước tôi ngay bên cạnh đây. Nó sập một nửa nhưng sống vào mùa hè thì không sao cả nếu anh có giấy thông hành. Chúng ta có rất nhiều bánh mì, còn lâu mới hết - tuần nào người làng cũng đem bánh mì ra cho tôi. Suối ở đây không bao giờ khô. Về phần tôi, người anh em thân mến ạ, từ mười năm nay tôi không ăn gì ngoài bánh mì và chỉ uống nước suối. Mọi việc diễn ra như thế này. Khi mùa thu tới, nông dân thôi làm đất thì sẽ có chừng hai trăm dân làng tới đây đốn loại cây mà gỗ bán được. Lúc đó tôi không còn việc gì làm, và anh cũng không được phép ở lại đây nữa.

Nghe xong những lời ấy con thấy hớn hở trong lòng, chỉ còn có nước sấp mình xuống dưới chân bác. Con không biết làm thế nào cám tạ Thiên Chúa vì sự tốt lành như thế. Khát vọng lớn lao nhất của con đã được đáp ứng bằng một cách không chờ không đợi. Còn hơn bốn tháng nữa mới tới mùa thu; suốt thời gian đó con có thể vui hưởng sự tĩnh lặng và bình an cần thiết mà đọc cặn kẽ cuốn Philôkalia để tìm hiểu và học tập sự cầu nguyện không ngừng trong tâm hồn. Như vậy, con rất vui sướng ở lại và sống suốt bốn tháng trong túp lều mà bác gác rừng chỉ cho.

Con trò chuyện thêm nữa với người anh em chất phác đã cho con nơi cư ngụ này. Bác kể con nghe cuộc đời và những suy nghĩ của bác. Bác nói rằng:

"Tôi từng có một chỗ đứng rất vững vàng trong sinh hoạt nơi làng mình. Tôi có một xưởng thợ, tại đó tôi nhuộm vải bông thô và vải gai. Tôi sống thoải mái, đầy đủ tiện nghi dù tôi là người tội lỗi. Tôi thường lừa phỉnh người ta trong chuyện làm ăn, thề dối, hà hiếp, say rượu và cãi lộn. Trong làng tôi có một người lo việc hát thánh vịnh và đọc Sách Thánh trong nhà thờ. Ông ấy có một cuốn sách rất xưa nói về Cuộc Phán Xét Sau Cùng. Ông thường đi hết nhà này sang nhà khác, đọc ít đoạn trong sách đó, và người ta trả công cho việc ấy bằng vật này hoặc vật nọ. Ông cũng tới nhà tôi. Tôi mặc cả trả ông ba xu và một ly rượu vang để ông đọc liên tiếp suốt đêm cho tới khi gà gáy sáng.

"Tôi ngồi làm việc, lắng tai nghe ông đọc về những khốn khổ đang chờ chúng ta dưới hỏa ngục. Tôi nghe chuyện người sống sẽ thay đổi và người chết chỗi dậy như thế nào; Thiên Chúa sẽ xuống phán xét thế gian ra sao; và các thiên thần sẽ thổi kèn đồng như thế nào. Tôi nghe tới lửa và vạc dầu sôi và dòi bọ đục khoét người có tội. Rồi tới một ngày, tôi đang lắng nghe thì bỗng kinh khiếp co rúm người lại. Tôi tự hỏi nếu như những thống khổ đó úp chụp lên người mình thì sao? Tôi phải sắp xếp để cứu rỗi linh hồn mình. Biết đâu bằng cầu nguyện, mình có thể tránh được các hậu quả của những tội lỗi mà mình đã phạm. Suốt trong một thời gian rất lâu, tôi nghĩ hoài nghĩ mãi tới chuyện đó.

"Sau đó, tôi bỏ hết công việc và bán nhà. Vì chỉ một thân một mình trên đời nên tôi nhận chỗ làm gác rừng ở đây. Tôi chỉ đòi hỏi ban chức việc làng cung cấp cho tôi bánh mì, quần áo và một ít đèn cầy để cầu nguyện. Tôi sống như thế này đã mười năm. Mỗi ngày ăn một bữa, chỉ bánh mì và nước lã thôi. Tôi thức dậy lúc gà gáy sáng, thắp bảy cây nến, dâng mình và đọc kinh trước các tượng thánh. Trong khi đi tuần trong rừng ban ngày, tôi quấn vô người mình, bên dưới quần áo, một dây lòi tói bằng sắt nặng chừng ba mươi kilô. Tôi không bao giờ phàn nàn, không uống rượu, không uống bia. Tôi không bao giờ cãi nhau với ai và suốt đời mình, tôi không dính líu gì tới đàn bà con gái.

"Ban đầu, tôi cảm thấy hài lòng với lối sống như thế này nhưng càng về sau, có các ý nghĩ khác xuất hiện trong tâm trí tôi mà tôi không thể xô đuổi chúng. Chỉ có Thiên Chúa mới biết rằng sống bằng cách này tôi có được sạch tội như lời cầu xin của tôi hay không, và tôi càng ngày càng thấy sống kiểu này quả thật là gay go quá. "Có phải những gì được viết ra trong cuốn sách đó đều có thật? Làm sao người chết có thể chỗi dậy? Giả dụ người ta chết đã hơn trăm năm và không còn để lại gì hết, kể cả tro cốt? Ai biết thật sự có hỏa ngục hay không? Người ta còn biết thêm gì nữa về con người sau khi chết và đã mục nát? Có thể cuốn sách đó do các cha các thầy viết ra để có ý làm cho chúng ta thành kẻ khù khờ khốn khổ sợ hãi và giữ chúng ta sống an phận? Nếu đúng như vậy thì có phải chúng ta đang gây tai họa cho mình một cách vô lối và từ bỏ mọi khoái lạc của mình một cách vô ích? Nếu thật sự có đời sau thì trong cái đời sau đó sẽ xảy tới cái gì? Không phải cách tốt là chúng ta cứ hưởng thụ cuộc sống trần tục của mình, số
ng một cách thong dong và vui sướng với nó sao? Các ý tưởng loại đó thường làm tôi bồn chồn lo lắng, tôi không biết phải làm sao đây, tôi chỉ biết chắc là mình sẽ không bao giờ trở về công việc như cũ nữa."

Nghe bác nói mà thương. Trước đây, con cứ tưởng rằng các ý nghĩ loại đó chỉ là của những người có học thức, thông thái, những kẻ có các ý kiến độc lập với những lời giảng dạy thường dược chấp nhận của tôn giáo, và không tin vào cái gì cả. Nhưng đây lại là một người trong chúng ta, dù chỉ là một bác nhà quê chất phác, một con mồi cho thứ tinh thần vô tín ngưỡng như vậy. Hình như vương quốc của bóng tối mở toang cửa ra cho mọi người và có thể tấn công dễ dàng nhất những kẻ hồn nhiên chất phác. Do đó người ta phải hết sức mình học hỏi sự khôn ngoan và củng cố bản thân bằng Lời Thiên Chúa để chống trả kẻ thù của linh hồn.

Vì vậy, nhằm giúp đỡ người anh em đó và làm hết sức có thể được của mình để củng cố đức tin của bác ấy, con lấy cuốn Philôkalia ra khỏi ba lô. Con mở tới chương 109 của Isikhi và đọc cho bác nghe. Con sắp xếp để chứng minh cho bác thấy việc tránh khỏi tội lỗi chỉ hoàn toàn vì sợ hãi những thống khổ trong hỏa ngục thì vô dụng và viễn vông biết chừng nào. Con nói với bác rằng ta chỉ có thể giải thoát linh hồn mình khỏi những ý nghĩ tội lỗi bằng cách canh chừng tâm trí và rửa sạch tâm hồn, và có thể làm được chuyện đó bằng việc cầu nguyện trong lòng mình. Con thêm rằng, theo các Giáo phụ thánh thiện thì, người nào làm những việc có tính cách cứu rỗi mà hoàn toàn chỉ vì sợ hỏa ngục thì kẻ đó đi theo con đường câu thúc, và cũng thế, người nào làm những việc có tính cách cứu rỗi mà hoàn toàn chỉ vì muốn được tưởng thưởng nước trời thì kẻ đó đi theo con đường mặc cả với Thiên Chúa. Các vị gọi loại người thứ nhất là kẻ nô lệ và loại người thứ hai là kẻ làm thuê. Nhưng Thiên Chúa muốn chúng ta đến với Ngài như người c
on đến với người cha của mình. Ngài muốn chính chúng ta có thái độ đầy vinh dự, một thái độ phát xuất từ tình chúng ta yêu thương Ngài và lòng chúng ta sốt sắng phục vụ Ngài. Ngài muốn chúng ta tìm thấy hạnh phúc của mình qua sự hiệp nhất bản thân ta với Ngài trong trạng thái nên một, một trạng thái có tính cách cứu rỗi, của cả tâm trí lẫn tâm hồn. Con nói rằng:

- Dù bác có bỏ ra nhiều công nhiều sức đối xử khắc nghiệt với thân xác của bác, thì làm theo cách như vậy, bác cũng không bao giờ tìm được sự bình an tâm trí; và nếu trong tâm trí bác không có Thiên Chúa và trong tâm hồn bác không cầu nguyện Đức Giêsu không ngừng, thì có vẻ như thể bác lúc nào cũng dễ dàng sa ngã phạm tội trở lại vì một lý do nào đó nhỏ nhặt hoặc nhẹ nhàng nhất. Hỡi người anh em của tôi, hãy dọn mình để thốt lên lời cầu nguyện Đức Giêsu không ngừng. Tại đây, ở nơi vắng vẻ này, bác có cơ hội rất tốt để cầu nguyện như thế, và chỉ trong một thời gian ngắn thôi, bác sẽ thấy hoa quả của việc ấy. Lúc đó, sẽ không có ý nghĩ nào có tính cách vô thần tới gần bác được, và sẽ vén lộ cho bác đức tin và tình yêu thương Đức Giêsu Kitô. Lúc đó bác sẽ hiểu ra người chết chỗi dậy như thế nào và bác sẽ thấy Cuộc Phán Xét Sau Cùng trong ánh sáng chân chính của nó. Việc cầu nguyện ấy sẽ làm cho bác cảm thấy thảnh thơi và vui sướng biết bao trong tâm hồn mình tới độ bác sẽ chính mình kinh ngạc về nó, đồng thời, v
ới một lối sống khỏe mạnh, bác sẽ không bao giờ còn cảm thấy mờ mịt hay khủng hoảng.

Rồi con tiếp tục ra sức giải thích cho bác nghe cách bắt đầu và cách tiếp tục không ngừng lời cầu nguyện Đức Giêsu, cùng Lời Thiên Chúa cũng như văn bản của các Giáo phụ dạy ra sao về việc cầu nguyện đó. Bác đồng ý hết thảy, và con thấy bác đã có vẻ bình tĩnh hơn.

Rồi con rời bác, tự nhốt mình trong túp lều đất bác đã chỉ cho. A! con vui sướng biết mấy, con hạnh phúc an tĩnh biết mấy khi bước qua ngưỡng cửa rút vào nơi cô tịch ấy, hoặc đúng hơn, một nhà mồ! Đối với con nó giống như một dinh thự nguy nga tràn đầy ủi an và mãn nguyện. Với nước mắt sung sướng vô ngần, con thốt lên lời cám tạ Thiên Chúa, và nói với mình rằng:

- Đây, trong sự yên ổn tịch lặng này, mình phải trang trọng sắp xếp công việc của mình và cầu khẩn Thiên Chúa soi sáng cho mình.

Như thế, con lại bắt đầu đọc suốt cuốn Philôkalia từ đầu tới cuối, hết sức tha thiết. Trước đây khá lâu, con đã đọc hết cuốn sách và thấy trong đó có biết bao nhiêu điều khôn ngoan, thánh thiện và những cái nhìn thấu suốt sâu thẳm. Tuy vậy, trong đó vẫn còn nhiều vấn đề cần được xử lý, và nó chứa đựng vô số bài học của các Giáo phụ thánh thiện mà con không thể nắm bắt hết được một cách rốt ráo và đúc kết những điều các vị phát biểu về sự cầu nguyện trong lòng thành một tập hợp duy nhất. Và đó là cái chủ yếu mà con muốn biết, để từ cái đó, con học được cách thực hành sự cầu nguyện tự động và không ngừng trong tâm hồn mình.

Đó là khát vọng lớn lao của con, theo mệnh lệnh thiêng liêng trong lời Thánh Tông đồ rằng: "Háo hức thèm muốn những tặng phẩm tốt lành nhất," và ông nói còn thêm rằng: "Chớ nguôi khao khát Thánh Linh". Con nghĩ hoài nghĩ mãi tới vấn đề đó trong một lúc rất lâu. Con tự hỏi mình sẽ xúc tiến như thế nào đây? Tâm trí và tầm hiểu biết của mình thấp kém quá so với việc này. Ở đây lại không có ai giảng giải cho mình.

Con quyết định bao vây Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện. Có lẽ bằng cách này hoặc cách khác Ngài sẽ làm cho con am hiểu. Suốt hai mươi bốn giờ, con cầu nguyện và cầu nguyện liên tục, không chốc lát nào ngừng. Cuối cùng, các ý nghĩ của con lắng xuống, con cảm thấy buồn ngủ. Và lúc ấy con mơ thấy mình ở trong căn buồng của tôn sư quá cố và thấy ông đang giải thích sách Philôkalia cho con. Ông nói rằng:

- Cuốn sách thiêng liêng này đầy ắp sự khôn ngoan sâu xa. Nó là kho báu bí nhiệm chứa đựng ý nghĩa những phán xét ẩn mật của Thiên Chúa. Không phải ai cũng có thể dễ dàng tới gần mọi chỗ trong sách nhưng bù lại, nó đưa ra cho mỗi loại người một sự chỉ dẫn thích hợp mà người đó cần tới: đối với người thông thái thì có sự chỉ dẫn thông thái, đối với người trí óc chất phác thì có sự chỉ dẫn giản dị. Đó là lý do một kẻ chất phác như con không nên đọc tuần tự hết chương này tới chương khác theo thứ tự sắp xếp trong sách. Thứ tự ấy chỉ dành cho người được đào tạo về thần học. Những ai không được đào tạo nhưng ao ước học từ trong sách này sự cầu nguyện trong lòng thì nên đi theo thứ tự sau đây. Trước tiên đọc từ đầu tới cuối tập của Nicêphôrêâ Nhà ẩn tu (ở phần hai), rồi tới trọn tập của Grêgôriô Núi Xinai, trừ những chương ngắn, rồi tới Simêon Nhà thần học mới về ba hình thức cầu nguyện và bài bàn về các đức hạnh, kế đó, các tập của Callistốt và Inhaxiô. Trong các bài của các Giáo phụ ấy đầy dẫy những chỉ dẫn và lời giảng về sự cầu nguyện bên trong tâm hồn, với lối trình bày mà ai cũng có thể hiểu. Thêm nữa, nếu con muốn tìm lời chỉ dẫn rất dễ hiểu về sự cầu nguyện đó thì hãy mở tới phần thứ tư và tìm những mẫu lời cầu nguyện do Đức Callistốt, Thượng phụ Conxtantinốp cô đọng lại.

Trong giấc mơ đó con thấy mình cầm trong tay cuốn Philôkalia, bắt đầu tìm trích đoạn ấy nhưng con không tìm thấy gì cả. Lúc đó, tôn sư tự tay mở ra vài trang và nói: "Nó đây này, ta sẽ đánh dấu cho con." Nói xong, ông lượm dưới đất lên một cục than, vạch dấu bên lề, ngay chỗ trích đoạn mà ông vừa chỉ cho. Con cẩn thận lắng nghe, rán sức ghi nhớ từng tiếng một những lời ông nói.

Khi con thức giấc trời vẫn còn tối. Con nằm yên, nhớ lại giấc mơ của mình và những lời tôn sư đã nói. Con nghĩ thầm:

- Chỉ có Thiên Chúa mới biết là mình thấy thần khí thật sự của tôn sư quá cố hoặc đó chỉ là hậu quả các ý nghĩ của mình vì chúng thường xuyên kết hợp với cuốn Philokalia và tôn sư.

Con đứng lên với sự ngờ vực ấy trong tâm trí. Ngày bắt đầu rạng và con thấy ra cái gì? Trên mặt tảng đá dùng làm bàn trong túp lều, cuốn sách nằm đó, mở ra đúng trang mà tôn sư đã chỉ cho con, và ngay bên lề có một dấu vạch bằng than đúng như trong giấc mơ của con! Bên cạnh cuốn sách còn có cả cục than nữa! Con nhìn sững vì con nhớ rõ tối hôm qua con không để cuốn sách ở chỗ đó, con đã xếp nó lại, nhét dưới gối của mình, và con cũng hoàn toàn chắc chắn là trước đây không có gì cả ở chỗ mà lúc này con thấy có dấu vạch bằng than.

Sự việc đó làm con tin chắc rằng giấc mơ của con là đúng và rằng lòng con nhớ tưởng đầy biết ơn tôn sư của mình đã làm vui lòng Thiên Chúa. Con bắt đầu đọc cuốn Philôkalia đúng theo thứ tự tôn sư đã ra lệnh. Con đọc xong một lần, rồi đọc lại lần thứ hai, và càng đọc càng rực cháy trong tâm hồn con khát vọng sôi nổi biến những điều con đọc thành những nếm trải thực tế. Con thấy rõ cầu nguyện trong lòng nghĩa là gì, làm cách nào với tới nó, hoa quả của nó là gì, nó làm con tim và linh hồn ta hân hoan chan chứa ra sao, và làm thế nào ta có thể nói rõ rằng những hân hoan đó là do bởi Thiên Chúa hay do bởi tự nhiên hay do bởi cám dỗ.

Vì vậy con bắt đầu tìm tòi con tim mình theo cách Simêôn Nhà thần học mới chỉ dạy. Nhắm mắt mình lại, bằng ý nghĩ, nghĩa là, bằng tưởng tượng, con nhìn chằm chặp vào trái tim mình. Con cố gắng hình dung tái tim của con ở đó, trong lồng ngực bên trái của con, và con chăm chú lắng nghe tiếng đập của nó. Con khởi sự làm như vậy vài lần trong một ngày, mỗi lần nửa giờ, ban đầu con chỉ cảm thấy tối thui. Nhưng dần dà, sau một thời gian tương đối ngắn, con đã có thể hình dung trái tim mình, nhận thấy chuyển động của nó, và hơn nữa, với sự trợ giúp của hơi thở, con có thể đưa vào nó và rút ra từ nó lời cầu nguyện Đức Giêsu theo cách dạy của các Thánh Grêgôriô Núi Xinai, Callistốt và Inhaxiô. Khi hít hơi vào, con nhìn bằng tinh thần vào trái tim của mình và nói: "Đức Giêsu Kitô", và khi thở hơi ra con nói: "Xin thương xót con". Ban đầu con làm như vậy trong một giờ, rồi lên tới hai giờ, rồi lâu hết sức có thể được, và cuối cùng, gần như làm suốt ngày. Nếu có phát sinh khó khăn nào, nếu thình lình con thấy uể oải hoặc
nghi ngờ, con vội vàng cầm cuốn Philôkalia lên, đọc lại phần nói về sự ứng xử với việc của trái tim, và rồi con lại thêm lần nữa cảm thấy nhiệt thành sôi nổi với lời cầu nguyện Đức Giêsu.

Qua được chừng ba tuần lễ thì con cảm thấy nhoi nhói nơi trái tim, và rồi cảm thấy sự nồng ấm hân hoan nhất, cùng với an ủi và bình yên. Cảm giác ấy lại càng làm con phấn khởi hơn và cổ võ con càng ngày càng chú ý sâu xa hơn vào lời cầu nguyện Đức Giêsu tới độ lời ấy xâm chiếm hết thảy những ý nghĩ của con và con cảm thấy vui sướng tột độ. Từ lúc này, con bắt đầu thỉnh thoảng có một số cảm xúc khác nhau trong tâm hồn và tâm trí. Đôi lúc tim con cảm thấy như thể sủi bọt hân hoan, bên trong nó phơi phới, thênh thang và an ủi. Đôi lúc con cảm thấy nóng bỏng tình yêu thương Đức Giêsu Kitô và tình yêu thương mọi sinh linh của Thiên Chúa. Đôi lúc mắt con chan hòa lệ biết ơn Thiên Chúa, đấng quá đỗi thương xót con, kẻ tội lỗi tả tơi. Đôi lúc, sự hiểu biết của con, vốn trước đây rất u mê, nay được soi sáng quá tới độ con có thể dễ dàng nắm bắt và chú tâm vào những vấn đề mà mới trước đó, con nghĩ mãi nghĩ hoài cũng không ra manh mối nào. Đôi lúc cảm giác khoan khoái nồng ấm trong tim con lan toả khắp mình mẩy và con
cảm động sâu xa nhận ra rằng sự có mặt của Thiên Chúa ở khắp mọi nơi là một thực tế. Đôi khi qua việc gọi danh Đức Giêsu lòng con chan chứa hạnh phúc, và lúc này con đã hiểu ra ý nghĩa của câu: "Nước Thiên Chúa ở trong lòng ngươi."

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài mới
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (5) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (4) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (3) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (2) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria, Hoa Hồng Mầu Nhiệm (1) (7/16/2013)
Tin/Bài khác
Cn 1940: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (3) (7/5/2016)
Cn 1939: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (2) (7/5/2016)
Cn 1938: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (1) (7/4/2016)
Đức Mẹ Tự Do (7/12/2013)
Các Kết Quả Của Kinh Mân Côi An Ủi Và Cứu Các Linh Hồn Ra Khỏi Luyện Ngục (7/10/2013)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768