MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria :: tiểu mục :: gương chứng nhân
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
Lòng Bác Ái Vô Bờ Của Vị Sáng Lập Trại Cùi Di Linh
Thứ Năm, Ngày 10 tháng 6-2021

Kính thưa Quý Cha, Quý Tu Sĩ Nam Nữ,

Bài viết dưới đây là của Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Khôi, con nhận được trên mạng. Nhận thấy đây là một tấm gương cao cả như một Thiên Thần, tuy không sánh bằng Mẹ Thánh Teresa Calcutta, nhưng cũng là một vị, theo nhận xét thô thiển của con, Thánh Sống. Con xin gửi đến Quý Cha, Quý Tu Sĩ Nam Nữ với đề nghị là tìm hiểu cặn kẽ thêm về Sơ Nguyễn Thị Mầu để làm một việc gì đó, vinh danh người Nữ Tu đầy lòng bác ái này, trên toàn thế giới Công Giáo. Xin đừng để tấm gương cao cả này chìm trong bóng tối.

Trọng kính,

Chu Tất Tiến


LÒNG BÁC ÁI VÔ BỜ CỦA VỊ SÁNG LẬP TRẠI CÙI DI LINH


Ở Việt Nam, hồi xưa và có lẽ cà bây giờ, người bị phong cùi cũng bị cô lập ở những trại riêng, dù cách chữa trị và phòng bệnh đã dễ dàng hơn. Mọi người khi nghe nói đến người cùi hủi đều sợ hãi và tránh xa, nhất là những người trốn trai ra ngoài ăn xin. Bài viết về trại Cùi Di Linh với Đức Cha Cassaigne và các sơ đã được viết từ lâu nay nói lại để nhớ đến những vị vì Chúa xả thân mình …

 Vị sáng lập trại phong cùi Di Linh: Giám Mục J.B. Cassaigne / Cát Gia Minh
      Trong những năm học y khoa, tôi đã có dịp tiếp xúc với bệnh nhân cùi, và có lần đã đi coi trại cùi ở Di Linh do Đức Cha J.B.Cassaigne (Cát Gia Minh) thành lập năm 1927 lúc ngài còn là linh mục trẻ thuộc dòng thừa sai Paris (MEP) mới qua Saigon được 2 năm. Ngài đã hy sinh phục vụ người phong cùi mà đa số là người thiểu số cho đến khi làm Giám mục Saigon năm 1941. Ngày 19-12-1945 là ngày kỷ niệm 30 năm linh mục thì cũng là ngày ngài biết ngài bị nhiễm bệnh cùi. Năm 1955, ngài trở lại Di Linh và qua đời tại đó năm 1973. Khẩu hiệu của ngài là “Tình Yêu và Bác Ái / Amor et Caritas”. Đúng vậy, ngài đã hy sinh cho những người khốn khổ bị người đời ghê sợ và ruồng bỏ vì tình yêu và bác ái. Ngài đã hy sinh cả cuộc đời cho người cùi nghèo khổ cho đến chết và xác cũng để lại nằm cùng với những người cùi mà ngài từng chăm sóc, như ngài đã thú nhận: “Tôi đã thấy họ trần truồng, la hét, đói khát, tuyệt vọng. Tôi đã thấy những vết thương của họ lúc nhúc ruồi trong những túp lều dơ bẩn …” Trại cùi Di Linh có được như ngày nay cũng là nhờ vị sáng lập tiên khởi từ lúc còn là vùng đất hoang vu hiểm trở.
 
Gương phục vụ của một nữ tu: Chị Josephine Mai thị Mầu[1]
      Nối tiếp sự nghiệp của Đức Cha J.B.Cassaigne là chị Mai thị Màu, một nữ tu dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn. Chị đã phục vụ ở đây 52 năm, từ năm 1968 lúc mới 27 tuổi. Chị đã vui vẻ dẫn chúng tôi đến thăm cả khu cũ và mới, phòng làm hồ sơ trị liệu cho những người anh chị em xấu số này. Qua ánh mắt và thái độ cho thấy chị mến thương tất cả mọi nạn nhân và bệnh nhân. Chị biết tên hết mọi người và từng người chị phục vụ như con cái. 95% nạn nhân ở đây thuộc dân tộc K’Ho và Nùng, nên họ gọi chị là Mơi Mầu (tức là Mẹ Mầu). Trong tổng số 219 người, một số là con cái của họ, và trong số những người con ấy, chị đã nuôi cho ăn học thành 3 bác sĩ và 2 kỹ sư, đang phục vụ cho trại cùi này.
      Đúng thế, chị đã phục vụ tại đây 52 năm. Cô thiếu nữ Mai Thị Mậu, năm 12 tuổi, đã theo gia đình từ Hải Hậu, Nam Định di cư vào Sài Gòn. Sau khi tốt nghiệp trung hoc, có một lần cô tình cờ cùng với một người bạn vào thăm thân nhân ở Bệnh Viện Nhi Đồng, cảm thấy thương các em nhỏ ở đó đớn đau la khóc, cô đã thầm nguyện theo học ngành y  để sau này phục vụ bệnh nhân ở bất cứ nơi nào. Và thiên ý đã định cho chị đến với Trại Phong Di Linh chính thức từ năm 1972 cho tới nay. Vào năm phục vụ thứ 33 ở đây, người nữ tu này đã tâm sự rằng:
 
-“Làm sao tôi bỏ đi đâu được, khi họ luôn luôn chờ tôi. Cũng giống như nếu tôi lấy chồng thì trại phong này chính là gia đình chồng tôi vậy. Tôi đã thuộc về nơi ấy!”
 
       Phải, chính vì người nữ tu này đã nhận nơi này làm nhà chồng của mình, và có lẽ chính vì những người anh chị em xấu số được chị phục vụ đã chẳng những trở thành nguyên cớ để chị đã đến không thể bỏ đi, mà còn là động lực để chị hăng say phục vụ hơn nữa, như chị đã tâm sự như sau:
“Người cùi luôn khao khát cuộc sống. Khi bị bệnh, họ bị buôn làng và gia đình ruồng rẫy. Đàn ông mất vợ. Đàn bà mất chồng … Vào trại, những con người bị ruồng rẫy ấy gặp nhau, lại nên vợ nên chồng, để tiếp tục cuộc sống bằng sức lực và thân thể đã tàn phế. Tôi học được ở chính những bệnh nhân của tôi tinh thần biết chấp nhận số phận một cách bình thản, không kêu ca oán thán …
 
       Vì biết chấp nhận số phận của mình, hoặc vì trung thực với ơn gọi sống đời tận hiến  cho Thiên Chúa trong việc phục vụ tha nhân, thành phần bất hạnh ở trại phong Di Linh này, nữ tu Mai Thị Mậu đã nỗ lực mở mang cho rộng lớn hơn rất nhiều những công trình do vị sáng lập của chị đã gầy dựng từ ban đầu. Thật vậy, chị cho biết:
“Năm 1972, tôi tình cờ có dịp chăm sóc cho một bác sĩ người Pháp ở Lâm Đồng bị bệnh nặng. Sau khi giúp ông khỏi bệnh, để trả ơn, ông hỏi tôi muốn gì? Khi biết ông có rất nhiều đất ở vùng này, tôi liền xin mua một miếng đất để sau này giúp cho con cháu người cùi tự lực làm ăn sinh sống. Vị bác sĩ đồng ý ngay và để cho tôi một vạt rừng rộng 53 mẫu, với giá chỉ tròm trèm 15 cây vàng. Tôi tìm mọi cách chắt mót để có được số tiền ấy mua đất”.
 
      Thế là sau bao nhiêu công lao khốn khó do đích thân người nữ tu chân yếu tay mềm này, cùng với những người được Thiên Chúa sai tới vào thời điểm của Ngài, có được mảnh đất là một vạt rừng với những cây thân to cả mấy người ôm mới hết, lại thấp thoáng bóng hoang thú cọp, beo, công, vượn v.v. từ từ đã trở thành nơi trồng cấy khoai mì, khoai lang, bắp, cà phê v.v. Chưa kể khu nhà trẻ mẫu giáo khang trang, tường hồng, gạch men, với vườn hoa thược dược đỏ thẵm trước sân.
 
      Từ đó, các con em thuộc trại phong Di Linh được chuyển đến đây, cách 12 cây số, ở xã Gia Hiệp để sinh sống biệt lập. Thật là một chuyện hình như chưa hề xẩy ra trong lịch sử các trại phong cùi. Các em dù có gia đình hay chưa, đều được hướng dẫn trồng trọt và chăn nuôi, trong vòng 5 năm, rồi sau đó sống tự lập. Cách đây mấy năm đã có 30 hộ gia đình tự lập, với 4 sào đất được cấp cho và một căn nhà trị giá 12 triệu đồng Việt Nam (tương đương với trên 700 Mỹ kim). Trẻ em trong trại đều được đi học. Nay đã có 3 em làm bác sĩ và 2 em làm kỹ sư đang phục vụ tại chính trại Phong Di Linh như đã nói.
 
     Khi chị đang dẫn chúng tôi từ khu nạn nhân đến khu bệnh nhân, tôi thấy một nữ tu trẻ
đẹp, đang phục vụ bệnh nhân ở đấy, đang tiến ngược về phía phái đoàn viếng thăm của chúng tôi. Tôi tránh sang một bên, đợi đến khi người nữ tu bước ngang qua trước mặt mình, tôi lên tiếng nói: “ngưỡng phục, ngưỡng phục!” Một nữ tu trẻ đẹp, mới 32 cái xuân xanh -như Mơi Mậu cho biết- kể như chôn vùi cuộc đời phơi phới đầy tương lai của mình trong trại cùi này hoàn toàn tự nguyện. Nếu trong trại này -Mơi Mậu kể- có hai người đàn bà nạn nhân cùi, một người đã chết 80 tuổi, và một người đang sống 70 tuổi, vẫn còn muốn lập gia đình, để tìm hạnh phúc cho tấm thân tàn ma dại già nua của mình vào những ngày cuối đời, thì lại càng phải ngưỡng phục biết bao con người nữ tu trẻ đẹp đang hiến thân phục vụ ở một ngọn đồi hoang vắng chẳng ai biết đến ấy. Hạnh phúc của người nữ tu trẻ đẹp ấy không phải là tình yêu phái tính mà là đức ái trọn hảo!
 
      Chắc chắn người nữ tu Việt Nam trẻ đẹp này không thể nào tự mình có thể hy sinh tận tuyệt đến như thế, ít là cho tới bấy giờ, nếu không được thu hút bởi Đấng là Tình Yêu, Đấng cũng đã bất ngờ chiếm đoạt con tim của một chiêu đãi viên hàng không người Pháp. Cô chiêu đãi viên xinh đẹp duyên dáng Pháp quốc này đã trở thành một nữ tu, và đã hiến trọn đời mình để phục vụ những anh chị em xấu số, cũng tại chính trại cùi Di Linh này. Người nữ tu này -Mơi Mậu cho biết- cũng trẻ đẹp và đã qua đời rồi. Người chiêu đãi viên hàng không trở thành người nữ tu phục vụ trại cùi Di Linh ấy, như truyện kể, đã thực sự được vị Tình Quân là Tình Yêu của cô chinh phục trên một chuyến bay, sau khi nghe thấy một vị hồng y nói rằng: cô đẹp lắm, nhưng cái duyên sắc mà cô có được là do Thiên Chúa đã lấy của bao nhiêu người cùi để trang điểm cho cô đó!
 
Tấm lòng bác ái của Sơ Mai Thị Mầu
      Vào năm 1973, khi Đức cha Cassaigne, người sáng lập làng phong cùi này qua đời vì bị lây bệnh, người nữ tu trẻ tuổi này quyết định xin ở lại trại cùi vĩnh viễn để được tiếp tục săn sóc cho các bệnh nhân. Nơi rừng thiêng nước độc và hẻo lánh, cả làng phong cùi chỉ có đôi ba nữ tu phục vụ, chẳng một ai ngó ngàng đến. Chị Mầu kể lại:
     -“Lúc đó, mọi người ai cũng sợ hết, những người bị phong cúi họ cho ở riêng một chỗ, chứ không ở chung trong gia đình. Ví dụ cách nhà của họ mấy chục thước thì họ làm cho một cái chòi để mà ở. Thời đó ai cũng sợ, không có ai dám bước đến trại phong, không ai giúp đỡ …Chỉ ngoài những nữ tu phục vụ thì ở đó thôi. Cũng không có bệnh viện nào nhận người cùi hết, chỉ có một bệnh viện Chợ Quán, có hai chục giường là để riêng cho người bị bệnh phong, cần nằm thì cho nằm thôi …Còn ngoài ra, tất cả các bệnh viện khác, không có ai nhận người phong hết, vì họ quá sợ …Thành ra, trong trại, các nữ tu theo nghề nghiệp của mình phải lo cho họ, tất cả mọi thứ, ngoài bệnh phong ra, phải tìm mọi cách để mà lo cho họ.. .”
      -“Là một y tá, -chị Mậu kể tiếp- tôi chịu trách nhiệm trực tiếp điều trị cho bệnh nhân. Các ngón tay chân bị mất, ngắn, cụt, nhỏ lại, bị co rút, trông cong queo, không kéo ra được. Vi trùng hủi nó làm hại đến cả dây thần kinh ở mặt và tay …làm cho miệng méo, mắt không nhắm được, sống mũi sập xuống. Tóm lại bệnh này nó tàn phá con người cả thể xác lẫn tinh thần đến tàn tật, chưa kể đến những đau đớn lở loét thúi tha dơ bẩn  mà người bệnh phải chịu. …Cuối cùng là chúng tôi phải nuôi dưỡng và chăm sóc những người bị tàn phế cả thể xác lẫn tinh thần .”
 
Nâng đỡ tinh thần bệnh nhân
     Không những chỉ chăm sóc về thể xác, mà chị còn tìm cách nâng đỡ tinh thần cho họ.
Đa số những bệnh nhân khi đến trại đều bị gia đình bỏ rơi, hàng xóm láng giềng ghẻ lạnh nên họ rất buồn tủi …
     “Ngày xưa -chị nói- họ ở theo tập thể gia đình, cứ mỗi một cái nhà bằng gỗ, 12 thước,
 chia ra, những người độc thân thì ở chung với nhau, 2, 3 người một phòng, rất là thiếu tiện nghi. Lúc đó, cũng ít người có gia đình, vì những người vợ, hay chồng bị bệnh bị bỏ rơi thì vô trại, còn những vợ hay chồng không bị phong thì họ ở lại làng …đương nhiên là người ta sẽ lấy chồng khác, vợ khác. Khi họ vào đây thì họ lại lấy nhau làm thành một gia đình khác …Con cái theo mẹ, nếu sinh con ở đây thì con cái thuộc về đây luôn …”
 
      Được hỏi làm thế nào để tránh cho con cái của bệnh nhân không bị nhiễm bệnh phong? Chị cho biết: lúc đầu, cách ly con ngay khi lọt lòng mẹ, nhưng vì điều kiện vật chất quá thiếu thốn nên khi tách con sớm như thế thì hay bị chết non. Do đó, chị Mậu quyết định để hẳn trong trại phong nhưng cách ly sinh hoạt, cho ăn uống và ngủ riêng. Nhờ vậy, sự lây lan cũng đỡ dần. Với quyết tâm xây dựng tương lai cho các con của bệnh nhân được học hành đến nơi đến chốn, Sơ Mầu tìm mọi cách thuyết phục các trường học thu nhận các em này. Chị kể lại: “Hồi đầu họ nhất định không cho học, nhưng sau này, khi họ biết các cháu ở riêng, và phải có giấy xác nhận là không có bệnh thì họ mới cho học …Các em đi học từ mẫu giáo đến cấp ba, em nào đi học đại học thì cho nó đi học ở thành phố Saigon hay ngoài Huế, theo các ngành nghề khác nhau …Những em học về ngành Y thì tụi nó trở về đây giúp, còn các ngành khác thì mình xin việc cho chúng nó làm như đi dậy học ở trường của tỉnh, còn kỹ sư thì chúng nó tự xin công việc ở thành phố hay các tỉnh …Nhưng nếu mình cần, thì cũng kêu các em về và cũng trả lương cho các em, thí dụ như em nào là kỹ sư nông nghiệp, mình có đất sản xuất, chăn nuôi, thì phải nhờ nó, thì mình cũng trả lương để các em về làm cho mình …Còn các em y, bác sĩ, thì nhà nước trả lương …”
 
Làng phục hồi:
        Để giúp cho gia đình của các bệnh nhân tự lập và hoà nhập vào cộng đồng, Chị Mầu có sáng kiến lập làng phục hồi. Cũng nhờ ngày xưa, trước năm 1975, với sự hỗ trợ của nhà Dòng và các ân nhân, chị mua được một miếng đất hoang vu, cách trại chừng 12 km, và đưa những người còn có khả năng làm việc về đó sinh sống và khai khẩn đất hoang, Chị nói: “Những người đó đã khỏi bệnh, sạch vi trùng, nhưng tàn phế, cùng với con em của họ về đấy sinh sống, làm thành một làng, hoà đồng vào xã hội …Tất cả những ai còn sức lao động, hay không tàn phế nhiều thì mình chuyển họ lên đó, vì ở trong này quá lâu, đất đai nhà cửa lại không còn đủ nữa …lên đó họ có đất đó để làm ăn …
 
      Sau này, mình tập cho họ tự lo liệu lấy với hết khả năng của họ, rồi thiếu tới đâu, mình giúp tới đó …mình tập cho họ không còn là gánh nặng cho xã hội nữa …Thí dụ mình khoẻ mạnh thì làm được 90%, còn họ làm 40% ... .” Cũng theo lời chị Mậu, hầu hết kinh phí để lo cho đời sống của bệnh nhân và con cái họ là do các nữ tu tự xoay sở lấy. Trước kia, trại có sự hỗ trợ của nhà dòng và các ân nhân cùng bạn bè của cha Cassaigne. Sau năm 1975, nhà nước bắt đầu quản lý, thì: “Nhà nước cho được 5 ký gạo, và 5000 đồng cho mỗi bệnh nhân ….Sau đó, cứ lên dần, 20 ngàn, 50 ngàn …rồi 100 ngàn …bắt đầu năm nay thì được hai trăm ngàn một người …Bây giờ ở Việt Nam cũng nhờ có phong trào làm việc xã hội, nên họ cũng rủ nhau, qua những đoàn đi tham viếng Đà Lạt, hoặc là thăm trại


Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài khác
Ông Cha Bên Lương --- Măc Trầm Cung (11/30/2018)
Nhà Thần Bí Conchita (6/27/2018)
Nicô Trụ Trì Chùa Quan Âm, Lương Thị Phụng, Xin Rửa Tội Theo Chúa (6/6/2018)
Bà Án Liêm, 93 Tuổi, Được Ơn Trở Về Với Chúa (5/12/2018)
Thánh Gh Gioan Phaolô Ii Cảm Ơn Phụ Nữ (3/11/2018)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768