|
LINH MỤC ĐOÀN GIÁO PHẬN PHAN THIẾT
HỌC HỎI HỌC THUYẾT XÃ HỘI CÔNG
GIÁO
Trong ba ngày từ
3-5/7/2012, Giáo phận Phan thiết tổ chức thường
huần định kỳ cho Linh mục đoàn.
Sáng 3/7:
Tĩnh tâm quý III tại nhà nguyện Tòa Giám Mục.
Trong
giờ chầu Thánh Thể khai mạc Tĩnh Tâm,
Đức Giám Mục Giáo Phận đã chia sẻ Tin
Mừng (Lc 10,1-12):Chúa Giêsu chỉ
định và sai 72 môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng.
ĐGM nhấn mạnh đến cụm từ “sai
đi từng hai người một”. Sai đi: đòi buộc
người được sai phải phụ thuộc vào
Đấng sai đi và đến nơi được
chỉ định, làm công việc theo ý
Người sai. Từng hai người một: nói
lên sự hiệp thông giữa những người
được sai. Linh mục giáo phận là người
tông đồ được sai đến một môi
trường nhất định để loan báo Tin
Mừng thì cần phải vâng phục Đấng sai đi
là Thiên Chúa qua Đấng bản quyền và luôn tạo nên
một tông đồ đoàn hiệp thông trong sứ
vụ.
Đến
10g, Đức cha Giuse chủ trì cuộc họp với linh
mục đoàn.
Ngài chào mừng quí cha về tham dự tĩnh tâm
đông đủ, bày tỏ niềm vui về những hoa
trái mà Giáo phận đã gặt hái được trong quý
vừa qua. Giáo
phận có thêm 18 tân linh mục, trong đó có một tân linh
mục chịu chức tại giáo phận Verona (Ý) là cha
Tôma Phan Quốc Tuấn; công việc thuyên chuyển linh
mục cùng với việc bổ nhiệm 7 cha phó làm
quản xứ đầu tiên. Kế đến, ĐGM giáo
huấn về việc điều hành giáo xứ,
chương trình nghỉ mùa hè của quý cha nơi các giáo
hạt, những sáng kiến cho công tác mục vụ hè và
cuối cùng là chúc mừng quý cha bổn mạng Tôma.
Cha
Tổng Đại Diện GB Hoàng Văn Khanh trình bày
bản hướng dẫn sống “Năm Đức Tin”.
1.
Ngày 11.10.2011, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI ban
hành Tự sắc Porta Fidei công bố Năm Đức Tin.
Từ Porta Fidei (cửa đức tin) gợi lại
Cv 14,27: “Chúa
mở cánh cửa đức tin cho dân ngoại”. Năm
Đức Tin lần I cử hành năm 1967 do ĐGH Phaolô
VI, kỷ niệm 1900 năm tử đạo của hai
thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, kết thúc với bản
tuyên xưng đức tin của dân Chúa. Năm Đức
Tin lần II này sẽ bắt đầu vào ngày 11.10.2012 và kết
thúc vào ngày 24.11.2013 (Lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ), kỷ
niệm hai sự kiện lớn trong Giáo hội: 50 năm
Công đồng Chung Vatican II và 20 năm ban hành Sách Giáo lý Hội
Thánh Công Giáo.
2.
Công đồng Vatican II được ĐGH
Gioan XXIII triệu tập 1963 thiết tha soi dẫn mọi
người bằng ánh quang Đức Kitô phản chiếu
trên gương mặt Hội thánh. Chính Người thanh tẩy,
soi sáng và thánh hóa trong các cử hành Phụng vụ thánh
(Sacrosanctum concilium). Với Hiến chế Dei Verbum, Công
đồng muốn giới thiệu cho toàn nhân loại bản
chất sâu xa của Hội thánh là Ánh sáng muôn dân (LG) và mối
quan hệ của Hội thánh với thế giới ngày nay
(GS). Như thế, với 4 hiến chế cột trụ,
và các tuyên ngôn, sắc lệnh, Công Đồng đối diện
với các vấn đề chính yếu của thời
đại.
3.
Để giúp lĩnh hội các văn kiện của
Công đồng cách thuận lợi, THĐGM 1985, kỷ niệm
20 năm bế mạc Công đồng, đề nghị
soạn thảo sách Giáo lý Hội thánh Công giáo nhằm cung cấp
cho dân Chúa bản toát yếu toàn bộ giáo thuyết công giáo
và làm bản tham khảo chắc chắn cho các tài liệu
giáo lý của từng địa phương. Sách Giáo lý
đã được biên soạn gồm 4 phần: Tín lý
(kinh Tin kính), phụng vụ thánh, đời sống kitô hữu
(luân lý), việc cầu nguyện. Sách Giáo lý là khí cụ hữu
hiệu và chính thức nhằm phục vụ sự hiệp
thông trong Giáo hội và là chuẩn mực chắc chắn
cho việc giáo dục đức tin.
4.
Mục đích
Việc cử hành Năm Đức Tin nhắm
đến 3 mục đích cụ thể:
-
Tái khám phá cốt lõi đức tin Kitô giáo là gặp
gỡ Chúa Kitô
-
Học hỏi ý nghĩa sâu xa của các văn kiện
Công đồng Vatican II
-
Đào sâu nội dung đức tin trong sách Giáo lý,
nhờ đó thi hành hữu hiệu sứ vụ loan báo Tin
mừng.
Như thế, Năm Đức Tin giúp mọi tín
hữu tìm hiểu sâu hơn nền tảng đức tin
Kitô giáo, đó là gặp Đức Kitô Phục Sinh, Đấng
mở ra chân trời mới cho cuộc sống và qua đó
giúp định hướng dứt khoát đời mình.
Năm Đức Tin nhằm góp phần làm sống lại
nơi các tín hữu sự gắn bó với Chúa Giêsu Kitô và
đào sâu đức tin, nhờ đó trở nên những chứng
nhân đáng tin về Đấng Phục Sinh, có thể chỉ
cho mọi người biết cánh cửa dẫn vào đức
tin.
5.
Hướng dẫn mục vụ
-
Giáo hội hoàn vũ: Khai mạc trọng thể
dưới sự chủ tọa của ĐGH, ngày
11.10.2012. Cùng với lễ khai mạc Năm thánh, là những
sự kiện khác: THĐGM 2012, Đại hội giới
trẻ thế giới 2013, những sáng kiến đại
kết. các HĐGM được đề
nghị nâng cao việc huấn luyện giáo lý, sự dụng
công nghệ thông tin và các loại hình nghệ thuật để
quảng bá nội dung đức tin và những giá trị
Công đồng mang lại cho Giáo hội và xã hội.
-
Cấp Giáo phận * : Khai mạc
– Bế mạc tại Giáo phận. Tổ chức các hội
nghị, hội thảo, học tập. Tổ chức các
buổi cử hành sám hối, đặc biệt xét mình về
các tội nghịch đức tin. Phát triển và phổ biến
những sáng kiến nhằm tái khám phá đức tin, sống
đức tin và loan Tin mừng.
* Riêng tại
Giáo phận Phan Thiết, sẽ tổ chức học tập,
hội thảo vào các ngày tĩnh tâm quý: về các đề
tài:
-
50 năm Công đồng Vatican II
-
Sách Giáo lý – Chương trình giáo lý
-
Lời Chúa (Lectio
Divina – Giảng – Loan Tin mừng)
-
Sống và chứng nhân đức tin trong gia
đình
-
Cấp giáo xứ - Giáo hạt: Khai mạc – bế
mạc tại
Giáo hạt- Giáo xứ. Chú trọng việc cử
hành đức tin trong Phụng vụ, nhất là Phụng vụ
Thánh Thể (Giáo phận sẽ tổ chức tĩnh huấn
các thừa tác viên ngoại lệ của Thánh Thể). Tổ
chức việc học tập các văn kiện Công đồng.
Dạy và học Giáo lý. Nỗ lực thực hiện việc
loan báo Tin mừng.
Chiều 3/7: Cha Ernest Nguyễn Văn Hưởng, Chánh xứ Gx Chợ
Đũi, nguyên Giám đốc ĐCV Thánh Giuse Sài gòn, trình
bày Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo.
Đề
tài 1:
Để tiếp cận Học Thuyết Xã Hội Công giáo
Để
tiếp cận chúng ta cần lưu ý những điểm
sau:
1. Bận tâm loan báo tin mừng của Giáo
Hội: Giảng dạy và phổ biến
học thuyết xã hội là một phần trong sứ
mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội, vì khi loan
báo Tin Mừng, Giáo Hội làm chứng cho con
người nhân danh Đức Kitô, làm chứng cho phẩm
giá và ơn gọi của con người là hiệp thông
với những người khác.
2. Học Thuyết Xã Hội Thuộc
về Thần học luân lý: Thông điệp
Sollicitudo Rei Socialis cho thấy: học thuyết xã hội
của Giáo Hội “không thuộc về lĩnh vực ý
thức hệ, mà thuộc về lĩnh vực thần
học, hay nói rõ hơn là thần học luân lý”... Đó là
“một sự trình bày chính xác những thành quả suy tư
nghiêm túc về các thực tế phức tạp của
đời sống con người, trong xã hội và trong
trật tự quốc tế, dựa vào đức tin và
truyền thống Giáo Hội.
3. Học Thuyết Xã Hội Nhấn Mạnh
Luật tự nhiên: Luật tự nhiên, cũng là
luật Chúa, không thể bị huỷ bỏ bởi
tội con người. Luật tự nhiên là nền
tảng luân lý thiết yếu để con người xây
dựng cộng đồng nhân loại và thiết lập
dân luật, tức là những kết luận có tính cụ
thể và phụ thuộc rút ra từ những nguyên tắc
của luật tự nhiên.
4. Học Thuyết Xã Hội Công Bố Hay Tố Giác ? Giáo Hội dấn thân trong công tác
mục vụ này theo hai hướng:
bằng cách công bố những nền tảng Kitô giáo
của nhân quyền và bằng cách tố giác những
sự vi phạm các quyền này. Dù sao, “công
bố bao giờ cũng quan trọng hơn là tố giác, và
không thể tố giác mà quên công bố, vì có như thế
việc tố giác mới chắc chắn và có động
cơ cao cả”.
Ngày
4/7:
Đề
tài 2: Bốn Nguyên Tắc
Của Học Thuyết Xã Hội Công Giáo
I.
NGUYÊN TẮC NHÂN VỊ VÀ NHÂN QUYỀN
1.
Nhân vị và nhân phẩm theo cái nhìn chung
của nhân loại
Nhân
vị: Khi
nói tới nhân vị chúng ta thường hiểu mỗi cá
nhân của xã hội loài người là một nhân vị, là
chủ thể của quyền lợi và nghĩa vụ.
Nhân vị không biệt lập nhưng hướng
về nhân vị khác, thông hiệp với nhân vị khác.
Nhân phẩm: Nhân phẩm là phẩm giá con
người, là giá trị tinh thần của một cá nhân
với tính cách là một con người. Nhân
phẩm chính là những giá trị phản ánh và tạo nên
phẩm chất của từng cá nhân.
Giáo
hội đánh giá cao bảnTuyên ngôn Quốc tế Nhân
quyền,Giáo hội ghi nhận“giá trị tích cực
của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được
Liên Hiệp Quốc chấp nhận ngày 10-12-1948, và
được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II coi như“một
cột mốc thực sự trên con đường
tiến bộ đạo đức của nhân loại”.
II. NGUYÊN TẮC CÔNG ÍCH (LE PRINCIPE DU
BIEN COMMUN)
Nguyên tắc công ích: mọi khía cạnh
trong đời sống xã hội đều phải liên
hệ đến công ích nếu muốn đạt tới
ý nghĩa trọn vẹn nhất, công ích xuất phát từ
chính phẩm giá, sự thống nhất và bình đẳng
của hết mọi người. Tuy nhiên, lựa chọn
ưu tiên dành cho người nghèo.
III. NGUYÊN TẮC BỔ TRỢ
Là nguyên tắc quan trọng nhất của
triết học xã hội: mọi xã hội thuộc
trật tự cao hơn phải có thái độ trân
trọng giúp đỡ (subsidium) tức là hỗ trợ,
đẩy mạnh, phát triển các xã hội thuộc
trật tự thấp hơn. Bổ trợ hiểu theo
nghĩa tích cực và tiêu cực.
IV. NGUYÊN TẮC LIÊN ĐỚI
Liên đới là một nguyên tắc xã
hội và là một đức tính luân lý. Liên đới là
một quyết tâm chắc chắn và kiên định
muốn dấn thân cho công ích: đức tính xã hội
căn bản nằm trong phạm vi công bằng, sẳn
sàng liều mất bản thân mình vì người khác. Chúa
Giêsu làm mối dây liên kết sự liên đới với
bác ái được sáng tỏ trước mặt mọi
người : trao ban hoàn toàn vô điều kiện, tha
thứ và hòa giải.
Đề tài 3 : Các
Giá Trị Căn Bản Của Đời Sống Xã
Hội
1. Sự thật: Mọi
người có nghĩa vụ đặc biệt là phải
luôn hướng tới sự thật, tôn trọng sự
thật và làm chứng về sự thật một cách có
trách nhiệm. Sống trong sư thật, tìm kiếm sự
thật.
2. Tự do: Tự do
là dấu chỉ cao đẹp nhất nơi con
người cho biết phẩm giá tuyệt vời của
mỗi người.
3. Công lý: Công lý là
ước muốn kiên định và vững chắc
trả những gì mình mắc nợ Chúa và tha nhân.Công lý xã
hội nhằm điều hòa các quan hệ xã hội theo
tiêu chuẩn tuân thủ luật pháp. Công lý hướng
về liên đới và yêu thương
A. CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU
Có một mối liên kết sâu xa giữa
các đức tính, các giá trị xã hội và tình yêu. Tình yêu
là tiêu chuẩn cao nhất và phổ quát nhất của toàn
bộ nền đạo đức xã hội. Chính từ
nguồn cội yêu thương sâu xa ấy mà các giá trị
như sự thật, tự do và công lý đã khai sinh và phát
triển
B. CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ
Con người là nền tảng và mục
tiêu của đời sống chính trị. Điều
răn bác ái của Tin Mừng soi sáng cho các Kitô hữu
thấy ý nghĩa sâu xa nhất của đời sống
chính trị. “Không có cách nào tốt hơn là… cổ vũ ý
thức nội tâm về công lý, lòng nhân hậu và việc
phục vụ công ích, đồng thời củng cố
các niềm xác tín nền tảng về bản chất
đích thực của cộng đồng chính trị,
về việc thực thi cách đúng đắn và về
các giới hạn của công quyền”.
C. QUYỀN HÀNH CHÍNH TRỊ
Quyền hành chính trị phải bảo
đảm cho có được một đời sống
cộng đồng trật tự và ngay thẳng, không
tước đoạt sự hoạt động tự do
của các cá nhân và tập thể, nhưng phải
điều tiết và định hướng cho sự
tự do ấy bằng cách tôn trọng và bảo vệ
sự độc lập của các cá nhân và chủ thể
xã hội hầu đạt được ích chung. Quyền
hành chính trị phải được thi hành trong khuôn
khổ luân lý và nhân danh công ích theo đúng trật tự pháp
lý được luật pháp công nhận. Khi thực
hiện được như thế, các công dân bị
buộc tự trong lương tâm phải tuân hành”.
D. XÃ HỘI DÂN SỰ
Cộng đồng chính trị
được thiết lập là để phục vụ
xã hội dân sự, mà từ xã hội dân sự này,
cộng đồng chính trị được khai sinh. Các
tập thể công dân có thể lập ra các hiệp
hội, ra sức phát triển và bày tỏ sở thích riêng
của mình, hầu đáp ứng các nhu cầu căn
bản và bảo vệ các quyền lợi chính đáng
của mình.
E. CỘNG ĐỒNG TÔN GIÁO
Công đồng Vatican II đã trao cho Giáo
hội Công giáo nhiệm vụ thúc đẩy tự do tôn
giáo. Chính phẩm giá của con người và chính bản
chất của công cuộc tìm kiếm Thiên Chúa đòi
phải để cho mọi người được
tự do không bị một áp lực nào trong lĩnh vực
tôn giáo. Quyền tự do tôn giáo phải được nhìn
nhận trong trật tự pháp lý và phải được
phê chuẩn như một quyền dân sự.
G. GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
Công đồng Vatican II đã long trọng
tái xác nhận rằng "cộng đồng chính trị
và Giáo Hội độc lập với nhau và hoàn toàn tự
trị trong địa hạt riêng của mình. Giáo Hội
được tổ chức theo những cách thức có thể
giúp đáp ứng các nhu cầu tâm linh của các tín hữu,
còn các cộng đồng chính trị đưa ra các
mối quan hệ và định chế nhằm phục
vụ mọi sự có liên quan tới công ích trên trần
gian. Giáo Hội có quyền được luật pháp nhìn
nhận bản sắc đúng của mình. Giáo Hội
thấy mình có bổn phận phải bênh vực các
quyền căn bản của con người hay vì sự
cứu độ các linh hồn.
Ngày 5/7 :
5 Giáo hạt chia làm 2 tổ
thảo luận 2 câu hỏi.
1.Tại sao Giáo
Hội Công Giáo nói về vấn đề nhân quyền
ở trong Giáo Hội ? Chính Giáo Hội cũng cảm
thấy nhu cầu phải tôn trọng công lý và các quyền
con người ngay trong hàng ngũ Giáo Hội (số 159).
2. Nguyên tắc bổ trợ áp dụng vào
mục vụ giáo xứ như thế nào ?
Sau đó cha Ernest đúc kết thảo
luận và mời gọi các linh mục vận dụng
học thuyết xã hội Công Giáo vào chương trình
mục vụ giáo xứ. Học thuyết Xã hội Công Giáo
là phương tiện để loan báo Tin mừng, làm cho
tất cả mọi thực tại thấm
đượm Tin mừng. Con đường yêu
thương là mô thức của các giá trị đạo
đức và hướng đến phục vụ con
người.
Kết thúc những ngày thường
huấn, Đức Cha Giuse đúc kết và cám ơn.
Vấn đề thường huấn linh mục
được nói đến trong nhiều văn kiện của
Giáo Hội. Đặc
biệt trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis. Đức
Giáo Hoàng Gioan Phao lô II đã viết trong nhiều số về
vấn đề thường huấn. Các
Hội Đồng Giám Mục trên thế giới đã
đúc kết lại trong những chương trình cụ
thể. Tại các Giáo phận của
Giáo Hội Việt Nam, hàng năm nổ lực làm sao có 52
giờ thường huấn. Một năm có 52 tuần, mỗi tuần một
giờ. Chính vì vậy tại nhiều
Giáo Phận, một năm có hai đợt thường huấn,
mỗi đợt ba là ngày liên tiếp. Đức Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II coi thường huấn là điều kiện
làm nóng lại niềm vui ban đầu của đời
dâng hiến.
Năm nay, cha Ernest Nguyễn Văn Hưởng
thuyết trình về học thuyết Xã hội Công giáo. Ngài đã có nhiều thời gian giảng
dạy môn thần học luân lý tại Đại Chủng
Viện Sài Gòn cũng như giúp các Đại Chủng Viện
khác và các Hội Dòng. Ngài nghiên cứu về
Học Thuyết Xã Hội và cũng đã trình bày tại
đó đây.
Cám ơn cha Ernest và cám ơn tất cả linh mục
đoàn của Giáo phận đã sắp xếp thời giờ
đến đây để lắng nghe. Anh em linh mục sẽ áp dụng những
điều đã ghi nhận và định hướng cho
công tác mục vụ tại ở giáo xứ như thế
nào, đó là tác động của Chúa Thánh Linh.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
|