MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria :: đề mục chính :: lịch sử
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
Ls: Câu Chuyện # 7 Ptan : Chuyện Một Người Bạn Học:
Thứ Ba, Ngày 3 tháng 1-2017

Chuyện Một Người Bạn Học:

Trước khi vào đệ tam Võ Tánh, hai thằng cùng học một lớp bên trường
Văn Hóa. Năm đệ ngũ, niên học khai giảng hơn hai tuần thì cô Hương,
giám thị, dẫn một người vào lớp. Mới đầu, từ cô Tùng Linh, giáo sư
hướng dẫn, đến học trò, không ai nghĩ anh ta sẽ là học sinh vào lớp đệ
ngũ này. Người cao lớn, vạm vỡ, đẹp trai, mái tóc bồng bềnh, mặc một
cái áo sơ mi sọc đậm, ngắn tay, xăn cao, quần sans-pli bó ống với cái
nịt to bản và đôi giày da bóng đi kêu lộp cộp. Lại còn cái kính đen
dắt trên dây nịt nữa chứ. Một cuốn tập cuốn tròn trong túi sau.
Cả lớp tròn mắt ngạc nhiên khi nghe cô Hương giới thiệu anh ta là học
trò mới, từ xa đến.
Cái tên nghe cũng lạ : Lâm Ni.
(Sau này mới biết anh ta gốc tàu Chơ Lớn, cha Tàu mẹ Việt. Gia đình
giàu có. Cha anh làm chủ một công ty xuất nhập cảng. Vì không kiểm
soát được anh, nên gởi anh ra Nha Trang ở với ông cậu, là chỉ huy phó
quân trường Đồng Đế. Ba má anh tin tưởng ông cậu nhà binh này sẽ đưa
thằng con cưng của mình đi vào nề nếp. Cùng với không khí mát mẻ, hiền
hòa của thành phố biển sẽ làm nó hiền lành ngoan ngoãn hơn).

Cô Tùng Linh chỉ cho Lâm Ni vào ngồi chung bàn với tôi ở phía sau. Anh
chào tôi bằng cái rờ đầu rất kẻ cả. Tuần đầu anh im lặng, ít nói
chuyện với ai. Mà có lẽ cũng chẳng có ai muốn làm quen với anh ta,
ngoại trừ Trần Bá Hòa, người vui tính mà nghịch ngợm nhất lớp. Nhưng
chỉ một tuần lễ sau là không khí cả lớp thay đổi hẳn. Mấy nàng nữ sinh
ngồi phía trước liên tục bị bắn giây thun từ phía sau lưng, thi nhau
quay ra phía bàn tôi chửi rủa. Có lần cô Linh đang viết trên bảng đen
bị lạc đạn, cả lớp phải nín thở. Một lần khi thầy Nguyễn Đức Nhơn đang
gọi điểm danh, thình lình cả lớp như chợ vỡ, khi mấy người đẹp phát
hiện một đám chuột con đỏ hỏn nằm dưới hộc bàn. Ai cũng biết tôi là
thằng gốc nhà quê, hiền lành. Nhưng vì ngồi chung bàn với Lâm Ni nên
"có chửi cùng chia, có cười cùng hưởng". Nói vậy chứ chưa có bà chị
nào quay xuống bàn tôi để nở nửa nụ cười, mà chỉ toàn là những cái
liếc sắc như dao, và tiếng rủa lùng bùng trong miệng chưa kịp phát ra
thành tiếng. Tôi bực mình anh ta nhưng không dám phản ứng.

Có lần tôi nhìn anh ta tỏ ra bực dọc, liền bị một cái cú đầu. Dưới mắt
anh, lúc nào tôi cũng là thằng nhóc con. Nghĩ thân phận nhược tiểu nên
tôi đành im lặng chịu đựng bên cạnh một đại cường. Nhưng tới một ngày,
chiến tranh cũng phải bùng nổ, khi anh ta mượn rồi làm mất luôn cuốn
vở " kiểu mẫu" (mà sau khi ở trường về tôi phải ngồi hằng giờ cặm cụi
viết lại, uốn nắn từng chữ bằng nhiều thứ màu mực), tôi đã ném vào
người anh tất cả mấy cuốn sách mà tôi có trong tay, giữa đám học trò
trong lớp. Kỳ lạ, lần này anh lại cười hiền khô, ôm tôi và bảo "xin
lỗi toa nghe!". Đã thế ngày hôm sau anh còn mang cho tôi một bịch mấy
trái thanh long. Từ hôm đó hai thằng xích lại gần nhau hơn một chút.

Cả trường biết anh, và có lẽ chẳng có ai ưa anh - tôi đoán thế - vì
anh chạy một chiếc xe gắn máy hiệu Gobel màu đen mới toanh, trên bình
xăng có vẽ hình con ó xòe đôi cánh, cái ghi-đông thật dài, ống pô được
tháo bỏ phần hãm thanh nên nổ inh ỏi. Nghe nói tối nào anh cũng đi học
võ ở võ đường của thầy Trọng Đãi. Có lần chính anh kể với đám tụi tôi,
anh vào Judo Club để học lấy đai đen thì lại gặp thầy Trần Thanh Lý,
dạy toán, cũng đang học trong đó, anh bèn rút lui. Khi ấy thầy Lý còn
trẻ, nhưng anh nể thầy lắm. Mặc dù thầy Lý chưa hề phạt anh, bởi trong
tất cả các môn học, môn toán và anh văn là anh giỏi nhất. Có lần thầy
Lý còn gọi đùa anh là Lâm Bưu. Lúc ấy nhiều thằng trong đám tụi tôi
chưa biết Lâm Bưu là gã trời đất nào, cũng cười theo. Nghe Lâm Ni kể
là ông già của anh ta có cái mũi rất thính trong thương trường. Ông
tin chắc là Mỹ thế nào cũng đổ quân vào Việt nam, nên mướn thầy dạy
kèm Anh văn cho con mình từ năm Lâm Ni mới vào đệ thất. Còn toán là
nhờ cái thông minh và lanh lợi mà trời đã ban cho anh ta để bù vào mấy
cái tật khác.

Lâu lâu, bọn tôi nghe Trần Bá Hòa thông báo là Lâm Ni hẹn đấu "pạc-co"
với băng Lò Heo, băng thằng Điền, hay băng thằng Liên nào đó ở Xóm
Mới. Mấy lần đám tụi tôi cũng tò mò theo Trần Bá Hòa đi xem, mới biết
Lâm Ni võ nghệ cao cường mà còn có tinh thần võ sĩ đạo kiểu Nhật Bản
nữa. Lúc nào cũng nhường cho đối thủ tấn công trước, và khi đối thủ
ngã xuống, anh không thèm tấn công, mà còn đỡ đứng dậy. Trong khi
những tay này đã từng chơi xấu anh sát ván bao lần trước.

Anh ở nhà ông cậu ruột, một biệt thự trên đường Yersin, nhưng bạn bè
thường thấy anh chở đào chạy vòng vòng ngoài đường Duy Tân, bờ biển.
Có khi còn thấy chiếc xe Gobel của anh dựng cả ngày trước Bar Thu Thủy
ở đường HoàngTử Cảnh.

Sang năm đệ tứ, không hiểu là vì mọi người đã quá quen cảnh cũ người
xưa , hay là chính anh ta thay đổi, bỗng dưng "lòng chợt từ bi bất
ngờ", không thèm phá phách nữa, nên một số bắt đầu làm thân với anh.
Mấy bà chằn lúc trươc bây giờ cũng có nàng đã cười nửa miệng với anh
ta. Tôi bây giờ lại là thằng thân nhất với Lâm Ni. Những ngày nghỉ
cuối tuần hay ngày lễ, anh đến nhà trọ chở tôi lên Phú Vinh, thăm khu
vườn nuôi gà của anh Khanh, trưởng lớp. Khi ấy anh Khanh đã có vợ hai
con. Có lần anh ta còn dám lấy xe jeep của ông cậu tới chở bọn tôi đi
lên Thành thăm cô bạn Tuyết Phượng ở bên kia cầu Phú Lộc, nhưng mới
đến Mã Vòng bị quân cảnh chặn lại hỏi giấy. Cả đám phải vào ngồi trong
đồn để chờ ông cậu của Lâm Ni cho người đến nhân xe và nhận người
luôn.

Có lẽ tôi có duyên nợ gì với Lâm Ni. Ngày thi trung học đệ nhất cấp,
vì tên cùng vần N, nên tôi lại bị xếp ngồi bên cạnh anh ta. Tí nữa thì
tôi khốn khổ. Môn toán và Anh văn, không cần nháp nhiết, anh ta làm
một cái vèo, nộp bài ra trước nhất. Nhưng mấy môn khác, tôi làm chưa
xong, thì anh thò tay qua chộp. Chút nữa là ông giám thị bắt đươc, tôi
hú vía. Kỳ thi ấy cả hai thằng đều đậu.

Từ hôm ấy, anh ta càng thân với tôi hơn. Cứ vài ngày là chạy xe lại
nhà tôi, chở tôi đi xuống quán số 1 duới bờ biển ăn bò bảy món, đi Cầu
Đá ăn phở gà trước khi tôi về quê nghỉ hè.

Quê tôi ở ngoài Vạn Giã, vào Nha-Trang tôi ở trọ nhà ông chú, một hiệu
buôn, trước ở đường Độc Lập, bên rạp ci-né Moderne của ông Bác Ái, sau
chuyển về đầu đường QL 1 trước Ty Thông Tin. Chú thím tôi hơi nghiêm
khắc, nên không muốn bạn bè tôi lui tới nhiều. Hơn nữa ông bà chỉ có
một đứa con gái rượu, xinh gái, gọi tôi bằng anh nhưng lớn hơn tôi hai
tuổi và học trên tôi một lớp , bên trường Lê Quí Đôn, nên ông bà cũng
muốn "kín cổng cao tường" một chút. Lần đầu tiên Lâm Ni tới tìm tôi,
ông bà nhìn anh ta từ trên xuống dưới, rồi bảo là tôi không có ở nhà.
Thực ra lúc ấy tôi đang ngồi phía trong phòng khách. Thấy Lâm Ni tới
tôi định chạy ra, nhưng nghe ông bà bảo vậy tôi im luôn. Sau này tôi
dặn Lâm Ni cứ dựng cái xe gắn máy phía trước ngồi chờ, thấy chiếc xe
là tôi chạy ra.

Về quê nghỉ hè chưa tròn một tháng, thì chú tôi nhắn ba tôi đưa tôi
vào Nha Trang gặp ông có chuyện gấp. Vào đến nơi, vừa bước vào nhà tôi
mới tá hỏa. Ông chú hò hét chửi tôi một trận xối xả, rồi bảo ba tôi
tìm một chỗ khác cho tôi ở học sau mùa hè .

Không biết tài tán gái thế nào mà chưa đầy một tháng Lâm Ni đã cua
được cô con gái cưng của ông chú tôi mà tôi chẳng hề hay biết. Tôi bực
anh ta nhưng cũng phục anh ta sát đất. Mà cũng xui cho anh - phải nói
xui cho chính tôi mới đúng- Ông chú tôi là dân Nha Trang chính hiệu
nhưng chưa hề biết nước biển Nha Trang ngọt mặn ra sao. Tôi nghĩ có lẽ
cái lý do chính là ông không muốn cho bất cứ ai nhìn thấy cái bụng phệ
hơi quá khổ của ông. Vậy mà hôm đó, có mấy người bạn từ Sài-gòn ra bàn
chuyện làm ăn. Nể tình, ông mới chiều khách đưa họ đi biển tắm. Bất
ngờ khi bước vào Quán số 3 bên bờ biển thì ông thấy một cặp tình nhân
đang ôm nhau say đắm. Ông giận đến không biết mình đang ăn món gì
trong miệng khi khám phá đôi tình nhân kia là cô con gái cưng của ông
và thằng bạn trời đánh của tôi.

Tôi mất mẹ từ nhỏ, nên Ba tôi cưng lắm, chưa hề la tôi một tiếng.Vậy
mà hôm đó ông la tôi một trận. Câu cách ngôn "gần mực thì đen gần đèn
thì sáng" hồi xửa hồi xưa, cũ như trái đất, được ông đem ra giảng tới
giảng lui mấy lần , măc dù tôi cố gắng hết sức để bào chữa cho Lâm Ni
: nào anh ta là con nhà giàu và tử tế, bên ngoài như thế chứ học hành
giỏi, nào là hiền lành và tốt bụng lắm. Nhưng tôi đành đứng chịu trận
khi ông chú tôi lỡ nóng dại mồm dám xác nhận ngay trước mặt bà thím là
chính ông ta gặp Lâm Ni mấy lần trong Bar Thu Thủy, và dưới Grand
Hôtel. Tôi nghĩ tối hôm đó chắc ông cũng mệt với bà. Nói thì nói vậy,
chứ gì thì ông chú cũng nể ông già tôi, và cũng cần tôi để làm cho ông
mấy bài toán cộng trừ, tính lời lỗ mỗi ngày, nên sau khi ông hết giận,
rồi đâu cũng vào đó.

Bị chửi quá nên tôi cũng giận Lâm Ni, định bụng sau hè vào phải dũa
cho chàng ta một trận và nhất định nghỉ chơi với anh ta để vào Võ Tánh
yên ổn mà lo học hành.

Ngày nhập học, khi đang ngơ ngác tìm lớp, thì có người vỗ vai. Quay
lại, thì đúng là Lâm Ni. Anh ta vào Tam B còn tôi vào Tam C. Gặp lại
trong giờ ra chơi, tôi kéo Lâm Ni ra ngoài, thụi vào bụng mấy cái, kể
lại chuyện tôi bị ông chú đuổi . Anh ta không thèm an ủi tôi một tiếng
mà còn bảo tôi lên nhà ông cậu ở với anh ta. Thực ra chàng ta cũng là
một thằng tốt bụng, nhưng tôi nghĩ thầm nếu tiếp tục quen với Lâm Ni
sẽ còn gặp phiền phức nữa, nên kể từ hôm ấy tôi lánh mặt anh ta.

Vào Võ Tánh, dường như Lâm Ni cũng thay đổi nhiều. Mặc đồng phục và
cắt tóc tai đàng hoàng. Nhưng bây giờ đi học bằng chiếc Vespa mới
toanh. Chắc là phần thưởng thi đậu của ông già. Lâu lâu tôi thấy anh
đứng ngoài cửa sổ lớp Tam C của tôi trêu ghẹo mấy người đẹp ngồi trong
lớp.

Cái lớp Tam C của tôi sao hiền lành quá. Chắc là thiên hạ chuẩn bị để
làm người lớn, hay là các bà chị trong lớp vừa đẹp vừa hiền như ma
soeur nên không còn tên nào muốn làm ma quỷ nữa . Ba năm ở Võ Tánh
trôi qua rất êm đềm, như mặt nước hồ thu, không còn lại trong tôi điều
đặc biệt nào đáng nhớ.

Ngày nhập học lớp Đệ Nhất, tôi có ý tìm nhưng không thấy bóng dáng của
Lâm Ni. Tôi nghĩ chắc chàng ta rớt tú tài 1, nên sang trường khác học
lại. Nhưng sau đó, tôi nghe mấy người học cùng lớp với Lâm Ni bảo là
anh ta đậu kỳ hai, nhưng đã theo ông cậu thuyên chuyển đi nơi khác.
Tôi thoáng một chút bùi ngùi, khi nghĩ là chẳng bao giờ còn gặp lại
anh ta.

Ba năm sau tôi vào quân trường Thủ Đức. Ra trường được chuyển ra một
đơn vị tác chiến lưu động ở Ban Mê Thuột, (mà lính tụi tôi thường gọi
là xứ Buồn Muôn Thuở, hay là Bụi Mù Trời) làm trung đội trưởng .

Trong một cuộc hành quân phối hợp, tiếp viện cho một chi đoàn thiết
quân vận bị phục kích tại Quãng Nhiêu, sau khi giải tỏa tình hình,
tiểu đoàn rút về, chỉ có trung đội tôi được lệnh ở lại tăng phái cho
một đại đội Biệt Động Quân . Thấy tôi có vẻ lo âu khi trung đội phải ở
lại một mình giữa chiến trường khói lửa chưa tan, ông tiểu đoàn trưởng
bảo :

- Chú mày yên chí, đại đội BĐQ này khá lắm, thằng đại đội trưởng này
đánh đấm có tiếng trong binh chủng mũ nâu đó.

Khi dắt trung đội hơn hai chục thằng lính, nửa kinh nửa thượng, đến
trình diện đại đội BĐQ, tôi sửng sốt khi nhận ra ông đại đội trưởng
chính là Lâm Ni . Tôi đứng nghiêm đưa tay chào

- Tôi đem trung đội tới trình diện trung úy .

Lâm Ni nhận ra tôi ngay. Anh ta hét lên:

- Có phải mày là thằng Ninh không.? ...Trung úy cái con khỉ, tao là
Lâm Ni đây, mày không nhận ra sao? Rồi anh ta ôm tôi quay mấy vòng.

Giải toả tình hình xong, trung đội của tôi tiếp tục được đặt dưới
quyền của Lâm Ni, nhận lệnh ở lại tìm kiếm một số chiến binh thất lạc
và giữ an ninh cho quân cụ lên kéo mấy chiếc M 113 bị bắn cháy và hư
hại về Ban Mê Thuột. Tối hôm ấy Lâm Ni giữ trung đội tôi đóng quân
chung với ban chỉ huy đại đội của anh. Một điều chưa từng xảy ra cho
một đơn vị tăng phái. Hai đưá uống hết bi đông rượu đế, nhắc lại bao
nhiêu kỷ niệm vui buồn thời còn đi học. Anh nhớ từng tên thầy cô giáo
và bạn bè lúc trước. Anh ân hận đã phá phách nghịch ngợm làm buồn lòng
thầy, bạn. Anh bảo tôi, ngay sau khi rời Võ Tánh là anh đi lính ngay.
Anh thích đời quân ngũ và hy vọng nó sẽ làm thay đổi cuộc sống của một
thằng nhà giàu vô tích sự như anh. Khi biết anh chọn BĐQ, cha mẹ anh
giận và buồn lắm, nhờ ông cậu, bây giờ làm lớn trong Bộ TTM, rút anh
về, nhưng anh nhất quyết chối từ. Trước khi đi ngủ, anh ta còn hỏi tôi
:

- Con nhỏ em mày, con gái ông chú của mày ở Nha Trang đó, bây giờ theo
thằng cốt đột nào rồi ? - rồi cười ha hả.

Hai hôm sau chúng tôi có lệnh di chuyển vị trí, và phải bung rộng ra
phòng thủ. Lâm Ni cho trung đội tôi xuống đóng trong một cái đồn bên
chân cây cầu sắt (của một đơn vị địa phương quân bỏ lại) để giữ cây
cầu khỏi bị phá hoại trước khi quân cụ lên kéo hết mấy chiếc thiết
giáp bị hư. Cây cầu cách ngọn đồi, nơi đặt ban chỉ huy của Lâm Ni
khoảng hai cây số.

Gần hai giờ sáng, trung đôi tôi bất ngờ bị tấn công. Địch áp dụng
chiến thuật cổ điển tiền pháo hậu xung. Sau mấy loạt 82 ly, chúng ào
ạt tấn công. Trung đội tôi có vài người bị thương sau đợt pháo kích
đầu tiên, nhưng tất cả đều chống trả mãnh liệt. Tôi chỉ kịp cầm ống
liên hợp máy PRC 10 báo cáo với Lâm Ni là đơn vị tôi bị tấn công mạnh,
cần ngay pháo binh và một lực lương tiếp ứng, đánh từ phía sau lưng
địch. Lâm Ni bảo tôi cứ bình tĩnh yên tâm chiến đấu, anh ta sẽ gọi
pháo binh và gởi ngay một bộ phận tiếp ứng. Không ngờ lực lượng địch
khá đông. Chúng tôi bắn ngã tên này thì tên khác lại xông lên. Chúng
đã dùng bêta phá mấy lớp rào bên ngoài rồi hô xung phong. Pháo binh ta
cũng bắt đầu rót xuống bên ngoài. Lúc này tôi chiến đấu hoàn toàn như
một khinh binh, Quả lưụ đạn cuối cùng tôi vừa mới ném ra, cũng là lúc
một vài tên địch đã xâm nhập vào phía bên trong hàng rào phòng thủ.
Khi đạn đã cạn, chúng tôi chuẩn bị đánh cận chiến, thì nghe được tiếng
súng bạn khắp nơi bên ngoài và tiếng hò hét : Biệt Động sát ! Địch vội
vàng tháo chạy, hai tên đặc công vào bên trong bị chúng tôi bắt sống.
Tạm thời kiểm tra đơn vị : 3 chết , 7 bị thương. Chưa kịp gọi máy báo
cáo, thì toán biệt động quân đầu tiên vào bên trong, võng theo một
thương binh. Nghe một sĩ quan BĐQ gọi máy xin trực thăng tản thương
khẩn cấp vì "đại bàng bị thương nặng", tôi giật mình chạy đến chiếc
võng: Lâm Ni mặt đầy máu và thở rất nhẹ. Tôi lay anh ta :

- Lâm Ni ơi, có làm sao không ? Ninh đây.

Dưới ánh đèn pin yếu ớt, gương mặt anh ta xanh xao, mở hé mắt nhìn
tôi. Đôi môi rung động như muốn nói với tôi điều gì. Tôi đưa tay sờ
lên môi anh, như là tôi đã hiểu những gì anh muốn nói.

Vị thiếu úy BĐQ vỗ vai tôi :

- Đúng ra đâu có phải nhiệm vụ của trung úy, tôi bảo ông nên ở lại, vì
chúng tôi chỉ đi có một trung đội và toán thám báo, nhưng ông đã lệnh
cho ông đại đội phó ở lại và ông trực tiếp dẫn đầu toán thám báo chạy
bay tới đây, xông ngay vào sau lưng địch mà đánh. Tội nghiệp, chỉ có
ông bị thương.

Trực thăng tản thương tới, tôi bế Lâm Ni lên, nắm chặt tay anh trước
khi máy bay cất cánh. Tôi bùi ngùi lo lắng khi biết là anh đã vì tôi
mà bị thương, cầu nguyện cho anh qua khỏi hiểm nghèo

Lần ấy anh còn sống, nhưng phải nằm điều trị ở QYV hết bốn tháng, còn
để lại mấy vết sẹo trên cổ, và vì bị thương ở thanh quản, nên giọng
nói của anh bị khàn đi. Sau đó đơn vị của anh có lệnh chuyển lên
Pleime, Pleiku. Tôi có liên lạc thăm anh vài lần trên hệ thống vô
tuyến.

Bẵng đi một thời gian, đầu mùa hè 72 , đơn vị tôi đang hành quân ở  An
Khê thì có lệnh di chuyển về phi trường Pleiku để được không vận toàn
bộ lên Kontum. Chiến trường đang tới hồi quyết liệt. Trong một lần
chuyển quân hoán đổi vị trí phía bắc Kontum tôi bất ngờ gặp lại Lâm
Ni. Lúc này anh đã mang lon Thiếu tá và nắm một tiểu đoàn BĐQ. Hai
thằng chỉ kịp ôm nhau chửi thề vài câu. Chưa kịp nói lời chia tay, thì
mỗi thằng đã mỗi ngả.

Cuối năm 1972, khi hiệp định Paris vừa ký xong, địch quân chưa trở cờ.
Hai bên tạm thời hưu chiến kiểu da beo. Các đơn vị tham chiến được
chuyển về các vị trí dưỡng quân. Tiểu Đoàn của Lâm Ni được về Hàm
Rồng. Đơn vị tôi thì về Đồi Đức Mẹ , Pleiku.

Đêm tiểu đoàn Lâm Ni làm lễ tái xuất quân tại Hàm Rồng được tổ chức
rất hùng tráng. Lâm Ni có mời tôi đến dự. Buổi tiệc ra quân kết thúc
bằng một chương trình văn nghệ khá đặc sắc, do biệt đoàn văn nghệ
trung ương từ Sài gòn ra, phối họp với các toán văn nghệ tâm lý chiến
QĐ II đảm trách. Tôi ngồi hàng ghế đầu với Lâm Ni. Khi có một nữ ca sĩ
từ Pleiku lên hát bài Chiều Trên Phá Tam Giang, Lâm Ni rất cảm động.
Cô tên Giáng Vân, có khuôn mặt khá xinh, phảng phất buồn, và giọng hát
trầm ấm thiết tha. Bài hát vừa chấm dứt, Lâm Ni bước lên nắm tay cô
cám ơn và bất ngờ cởi tặng cô chiếc đồng hồ Longine mới toanh mà anh
vừa mới mua từ Sài gòn, khi được bảy ngày phép về thăm cha mẹ.

Đêm đó tôi ở lại với Lâm Ni. Anh kể là cha mẹ anh cứ năn nỉ anh đổi về
Saigòn. Ông bà sẽ lo cho anh về BTL Cảnh Sát hoặc bất cứ nơi nào ở
Saigon anh muốn. Ông bà cũng đưa anh đến thăm gia đình một người Tàu,
có cô con gái làm chủ một nhà hàng, mà ông bà định hỏi cưới cho anh.
Ông bà nôn nóng có đứa cháu đích tôn nối dõi. Nhưng anh chỉ im lặng.
Rồi khi bị hỏi quá, anh hứa cho Anh ba năm nữa. Anh bảo tôi, đời lính
sống nay chết mai, vợ con làm gì cho vướng chân vướng cẳng.

Đầu năm 73, tôi bị thương nặng, phải nằm điều trị hơn hai tháng ở QYV
Pleiku.. Lâm Ni có ghé lại thăm tôi một lần vội vã, khi có dịp về
Pleiku họp hành quân. Khi chia tay, anh rút từ túi quần sau ra một xấp
tiền đưa cho tôi :

- Tiền ba tháng lương của tao, mày cầm lấy mà gởi cho vợ con mày. Mày
đông con. Tao độc thân , suốt cả năm sống ở trong rừng, lỡ có chết
tiền không ai xài uổng lắm.

- Tôi từ chối, nhưng anh nhét xấp tiền vào dưới chiếc gối tôi nằm .

Sau đó tôi được theo học một khóa tham mưu tại Long Bình. Mãn khóa,
đuợc điều về Trung Tâm Hành Quân. Lâm Ni thì vẫn nay đây mai đó, nhưng
chúng tôi thường liên lạc hỏi thăm tin tức nhau trên hệ thống vô
tuyến. Một lần khi bay bao vùng, biết anh vừa lên trung tá, tôi đáp
xuống thăm, và mang mừng anh ta chai Hennessy, loại rượu anh thích
nhất. Anh bảo, BCH/BĐQ dự định đưa anh ra nắm một Liên Đoàn ngoài vùng
1 thay cho anh Liên Đoàn trưởng vừa tử trận, nhưng tình hình ở đây
đang nguy ngập, nên anh chưa rời đơn vị được

Tháng 3/75, ngay sau khi Ban Mê Thuột mất, tôi may mắn được theo BTL
Tiền Phương. Nói là Tiền Phương nhưng lại đóng ở Nha Trang và một đôi
khi ở Khánh Dương.

Có lệnh bỏ Kontum và Pleiku. Tiểu Đoàn BĐQ của Lâm Ni là một trong
những đơn vị được chỉ định đi đầu, mở đường cho đoàn quân di tản từ
Pleiku xuống Tuy Hòa theo tỉnh lộ 7. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ
nhất trong lịch sử chiến tranh Việt nam, kéo theo sự sụp đổ cả miền
Nam.

Tôi được chỉ định làm trưởng toán, dùng một hợp đoàn trực thăng bay đi
liên lạc và hướng dẫn những toán quân thất lạc trong rừng. Ngày N+3,
trong lúc chiến trường ác liệt và tồi tệ nhất, tôi may mắn liên lạc
được Lâm Ni trên tần số không lục. Tôi tìm mấy bãi đáp tương đối an
toàn, giục Lâm Ni đến đó để tôi bốc. Nhưng anh ta từ chối, bảo là mặc
dù tiểu đoàn của anh bị tan tác, quân số chỉ còn gần một trung đội,
nhưng anh không thể bỏ anh em vào lúc này.

Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi nghe giọng nói của Lâm Ni. Năm
1977, trong một trại tù cải tạo ở  Lào Cai, tôi gặp lại một sĩ quan
của Lâm Ni lúc trước. Anh ta là sĩ quan duy nhất trong đơn vị còn sống
sót . Anh cho biết là khi bị địch vây và kêu buông súng đầu hàng, Lâm
Ni đã bắn tới viên đạn cuối cùng. Anh tự sát bằng một quả lựu đạn loại
tấn công, và đã chết chung với một đám địch quân định vây bắt anh.

Mùa hè năm ngoái, tôi có cô con gái út lấy chồng bên London. Cả nhà
tôi sang đó dự tiệc cưới do nhà trai khoản đãi. Sau đám cưới, vợ chồng
cô con gái đi Thái Lan hưởng tuần trăng mật. Chúng tôi muốn ở lại
London ít hôm để xem vài thắng cảnh và đến thăm gia đình một người bạn
học cũ của bà xã tôi ở thành phố Birmingham, cách London chừng ba giờ
lái xe. Cậu rể nhờ một người bạn chí thân, một bác sĩ trẻ khá bảnh
trai, và cũng là phụ rể trong đám cưới, làm tài xế và hướng dẫn viên
cho chúng tôi. Hơn nữa nhà cậu ta cũng ở Birmingham.

Ngày cuối cùng, trước khi rời khỏi Birmingham, cậu ta mời chúng tôi
ghé lại nhà để dùng một bữa cơm với gia đình. Nói là gia đình, nhưng
thực ra chỉ có hai mẹ con thôi. Cậu bảo thế.

Trời nóng như lửa đốt, lại biết chúng tôi đang đói, cậu ta gọi cell-
phone về nhà bảo bà mẹ chuẩn bị thức ăn sẵn. Về đến nhà, cậu ta vội vã
đi lấy khăn, hướng dẫn chúng tôi vào phòng tắm rửa mặt, rồi chạy vào
bếp phụ mẹ. Vào phòng ăn, khi chúng tôi kéo ghế ra chưa kịp ngồi thì
bà mẹ bưng thức ăn ra vui vẻ chào, và xin lỗi vì bận tay nên không ra
cổng đón được . Thấy người đàn bà này có nét giống một người nào đó mà
tôi đã gặp, tôi cố gắng lục lọi ký ức, nhưng vẫn không nhớ ra.

Khi cơm nuớc xong, bà mời chúng tôi lên phòng khách uống nước và ăn
tráng miệng. Nhìn một tấm ảnh phóng lớn treo trên vách. Lại là một
người lính. Tôi tò mò bước lại xem và sững sờ khi người trong ảnh
chính là Lâm Ni.

Sau một lúc hàn huyên, tôi mới nhận ra người đàn bà này chính là cô ca
sĩ tâm lý chiến có tên Giáng Vân, trong đêm làm lễ tái xuất quân của
đơn vị Lâm-Ni trên Hàm Rồng lúc trước. Một cô ca sĩ tâm lý chiến, mà
ngày xưa nhiều kẻ đánh giá chẳng ra gì, chết chồng từ thuở mới 20, có
nhan sắc, trải qua bao nhiêu khốn khổ, vậy mà không hề bước thêm một
bước nào, ở vậy nuôi con học hành thành đạt, đức hạnh nên người. Điều
bất ngờ hơn, cậu thanh niên dễ thương, tốt bụng, đón đưa chúng tôi mấy
ngày hôm nay, cũng là người bạn chí thân của thằng rể chúng tôi, lại
là giọt máu duy nhất của Lâm Ni còn lại trên thế gian này.

Tôi có hỏi về ông bà nội cháu, Giáng Vân cho biết là sau khi chạy từ
Pleiku về, cô phải nằm bệnh viện cho đến mấy tháng sau ngày miền Nam
thất thủ, nên đã phải sinh non, may mà mẹ tròn con vuông. Khi sanh
cháu xong, chị có đi hỏi thăm cha mẹ Lâm Ni, nhưng được mấy người láng
giềng cho biết là ông bà đã đi về Trung quốc.

Tôi bùi ngùi nghĩ tới Lâm Ni, người bạn học có nhiều duyên nợ với tôi,
đã gây cho tôi một vài phiền muộn, nhưng cũng đã để lại trong tôi biết
bao điều xúc động. Không hiểu, ở một nơi xa xăm nào đó, anh có biết là
tôi đã bất ngờ gặp lại vợ con anh. Cũng có thể chính anh đã linh
thiêng đưa tôi đến đây. Một nơi xa lạ, ngàn trùng cách biệt với quê
hương, với Nha Trang. Nơi mà một thời, anh đã có biết bao kỷ niệm với
thầy với bạn và nhất là với tôi, thằng bạn nhóc tì của anh ngày trước.
Ông bà già của Lâm Ni chắc không ngờ là mình đang có một đứa cháu đích
tôn trên thế gian này, mà trước đây ông bà đã từng mơ ước

Trước khi từ biệt vợ con Lâm Ni, tôi đứng lặng lẽ một mình trước tấm
ảnh của anh, ôn lại bao nhiêu chuyện cũ rồi buột miệng thì thầm hai
câu thơ quen thuộc :

Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ ?

Từ trong tấm ảnh, dường như Lâm Ni đang nhìn tôi mỉm cười .

phạm tín an ninh

(xin gởi đến chị Lâm Ni và cháu Lâm Bình như món quà muộn màng)

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài khác
Tân Phúc Âm Hóa Hôm Nay (5/28/2014)
Nhớ Về Ông Bà Ngô Đình Nhu (2/9/2014)
Hồi-ký Của Bà Ngô Đình Nhu (2/9/2014)
Bí Ẩn Đại Hồng Thủy Và Con Tàu Của Noah (9/2/2012)
Tấm Gương Do Thái (7/20/2012)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768