MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria :: tác giả và tác phẩm :: tác giả phạm tín an ninh
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
Những Đàn Chim Thiên Di
Thứ Năm, Ngày 22 tháng 1-2009


Những Đàn Chim Thiên Di
Flying birds

Cả hai tuần nay, mấy quan chức sở "bảo vệ súc vật" thành phố thường
xuyên đến thăm gia đình tôi, để tìm hiểu lý do vì sao, trước mùa đông
năm nay những đàn chim trane không còn trở về vùng này nữa. Họ đã cho người dọn dẹp lại khu bờ sông, chăm sóc cánh đồng cỏ và trồng thêm mấy hàng thông phía bên kia để đón những đàn chim, nhưng chờ mãi mà chẳng thấy bóng dáng một con trane nào trở lại.

Trane là một loài chim sống thành đàn, màu nâu đen, có dáng như con
hạc ở quê nhà. Là một giống chim không chịu lạnh, nên hàng năm, cứ
trời sắp sang đông là tụ tập từng đàn ở một nơi nào đó rồi chia nhau
bay tìm những xứ nóng phương nam. Ở Bắc Âu có nhiều loài chim trốn
lạnh, nhưng loại trane này nhiều nhất, có tổ chức khá qui củ, và khi
bay đi chúng bay thành từng nhóm theo hình những mũi tên, có khoảng
cách đều nhau, rất đẹp.

Định cư ở Nauy hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của
mấy đứa con tạm ổn định, cũng là lúc vợ chồng tôi bắt đầu có thời gian
để hồi tưởng về quá khứ, và nhớ quê hương. Chúng tôi quyết định mua
một ngôi nhà dưới thung lũng nhỏ, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên
kia là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh
có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả
hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì.

Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra phía cánh đồng
và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên
kia triền núi đó. Không những vợ chồng tôi mà mấy đứa con đều thích
thú ngôi nhà này, vì nó khá rộng rãi đủ để mỗi đứa có một phòng riêng,
trang trí, sắp xếp theo sở thích của mình. Trong thung lũng nhỏ này,
ngoài chúng tôi, chỉ có ba gia đình láng giềng, một đến từ Thụy Điển,
một đến từ Tây Đức, chỉ có một gia đình là dân bản xứ chính tông. Có
lẽ sống trong một khu "hợp chủng quốc" bé nhỏ nhất trên lục địa này,
nên chúng tôi sớm gần gũi, thân tình.

Dọn đến cuối mùa xuân, nên suốt hè năm ấy, chúng tôi lần lượt là khách
mời của mấy người bạn láng giềng. Ông bà người Thụy Điển có chiếc du
thuyền lớn với đầy đủ tiện nghi. Cả nhà chúng tôi được cùng họ xuôi
ngược cả một tuần trên con sông Nitelva chảy dài qua những rừng thông,
đồng cỏ và một vài vùng quê êm ả, lãng mạn. Những ngày còn lại, cùng
với gia đình ông bà người Đức vào rừng cắm trại, đi săn, rồi cùng với
gia đình ông bà Nauy đi cắm lều bên kia bờ sông, vừa câu cá vừa ngắm
những cặp thiên nga tung tăng bơi lội.

Khi những chiếc lá vàng cuối cùng rơi xuống, trời đột nhiên trở lạnh,
báo hiệu sắp chấm dứt mùa thu bắc âu thơ mộng, cũng là lúc chúng tôi
bắt đầu chuẩn bị mọi thứ cho một mùa đông băng giá kéo dài cả năm, sáu
tháng.

Một buổi tối, khi ngồi ở phòng khách đọc mấy tờ báo, tôi nghe tiếng
chim kêu, mỗi lúc một nhiều, vang động cả một vùng xưa nay tĩnh mịch.
Tiếng chim có cái âm sắc như đang tìm nhau, gọi nhau, mừng rỡ. Hôm
sau, hỏi ông láng giềng người Đức, tôi mới biết là chính ngã ba sông
ngay trước nhà tôi, từ bao nhiêu năm nay, là nơi nhiều đàn chim trane
di xứ chọn làm địa điểm tập trung để bay về phương nam trước khi mùa
đông đến.

Cả mấy đêm liền sau đó, cứ vào khoảng chín giờ tối, những đàn chim từ
mọi nơi bắt đầu kéo về tụ tập ở bờ sông và cánh đồng cỏ bên kia, kêu
gọi nhau cả đêm. Đến mờ sáng, chia nhau từng nhóm chừng hai mươi con,
nối tiếp bay đi, theo hình những mũi tên, vẽ lên nền trời mờ hơi sương
một bức tranh tuyệt đẹp.

Nhiều đêm, tôi lặng lẽ ra bờ sông, ngồi cả mấy tiếng đồng hồ, nhìn
chim từng đàn bay tới, cả trăm, rồi hàng vạn con. Chúng đón nhau gọi
nhau líu lo mừng rỡ. Tiếc là loài người đã không hiểu được ngôn ngữ
của loài chim, để nghe nó chào nhau, nói với nhau những lời tình tự,
và bàn nhau phân công, tổ chức, sắp xếp từng đàn lần lượt bay đi trong
trật tự. Tôi miên man hồi tưởng thời gian hơn mười năm trong lính. Rồi
bất ngờ nảy ra một ý tưởng so sánh lạ kỳ: Những "đội quân" chim trane
này có tinh thần kỷ luật và tình đồng đội. Các "vị chỉ huy" của nó còn
tài giỏi hơn nhiều ông quan chỉ huy của bọn tôi ngày trước. Con chim
dẫn dầu trong một đội hình mũi tên chắc chắn phải là con chim chỉ huy
cấp nhỏ nhất, nhóm trưởng. Con chim "tổng tư lệnh" phải là con chim
bay lên ở những nhóm cuối cùng. Phải như thế mới có được một cuộc
"hành quân triệt thoái" diễn ra trong trật tự và đẹp đẽ như tôi vừa
chứng kiến. Cái may mắn, là chúng có cả một không gian yên bình để sắp
xếp những chuyến ra đi, khác với những người lính chúng tôi vào những
ngày cuối tháng tư, với bom đạn xe pháo dày đặc của cả một khối liên
minh đối phương kéo từ phương Bắc. Trong lúc chúng tôi bị người bạn
đồng minh bội phản, và điều đáng buồn hơn, đã có nhiều cấp chỉ huy hèn
mạt, xa chạy cao bay trong khi chúng tôi vẫn còn kiên cường chiến đấu.

Những năm sau đó, năm nào cũng thế, khi trời chỉ mới vào thu là tôi đã
bắt đầu ngóng chờ những con chim trane trở lại. Tôi chờ chúng như đã
từng chờ những chiến hữu của mình. Tôi thấy như mình trẻ lại, lòng rộn
rã niềm vui. Cho dù cứ mỗi lần đàn chim tụ tập về đây là tôi có nhiều
đêm mất ngủ, trăn trở nghĩ suy về quê hương và thân phận của mình cùng
những bạn bè xưa.

Hầu hết bạn bè tôi, nếu còn sống sót sau cuộc chiến tang thương đó, kẻ
đã phải ra đi trong loạn lạc, ly tan, người thì được ông bạn đồng minh
phản bội năm xưa, can thiệp với kẻ cựu thù cho "ra đi trong vòng trật
tự" sau nhiều năm bị đày đọa ngục tù, vợ con nheo nhóc, để giờ này mỗi
người trôi dạt một phương, mang theo những vết thương không lành được
ở trong lòng. Biết đến khi nào chúng tôi mới đuợc như những con chim
trane đang tụ tập ca hót líu lo ngoài kia, trươc giờ bay xuống phương
nam?

Có một lần, dường như vào mùa đông thứ năm, khác với mọi năm, khi trời
đã sáng hẳn rồi mà đàn chim cuối cùng vẫn chưa rời khỏi địa điểm tập
trung, kêu lên những tiếng kêu lạ, buồn và khắc khoải. Tôi tò mò chạy
ra xem. Lúc ấy những con chim vội vàng tung cánh bay lên rồi lần lượt
xếp lại thành đội hình mũi tên, nhưng vẫn bay vòng lại mấy lần và tiếp
tục những tiếng kêu buồn không dứt. Tôi đứng nhìn theo, lòng lắng
xuống như muốn nhắn gởi theo từng cánh chim một ít nỗi niềm. Nghe có
tiếng sột soạt trong một hốc đá, tôi chạy lại tìm. Một chú chim, chẳng
hiểu vì sao bị gẫy đôi chân, nằm sâu trong đó, bên cạnh có khá nhiều
hạt lúa mì, thức ăn dành cho nó. Tôi bế con chim vào nhà. Nó nhìn tôi
như van lơn, đôi mắt ướt nhè. Tôi có cảm tưởng là nó đang khóc. Tôi
lại chợt nhớ tới những đồng đội bất hạnh, bị trọng thương trong những
ngày cuối cuộc chiến, đau đớn, cô đơn, rồi lang thang sau khi bị đuổi
ra khỏi các quân y viện. Mắt tôi bỗng nhòe đi khi nghĩ đến mấy vị
tướng oai hùng, cùng ở lại sống chết với anh em rồi tuẫn tiết trước
giờ thứ hai mươi lăm.

Từ ngày có con chim trane thương tích, nhà tôi lại vui hơn, nhất là
hai cô con gái nhỏ của tôi, tha hồ nâng niu, chăm sóc và kể cả tâm
tình với nó. Cô bé thích sau này làm nghề y tá, thì mang nó ra phòng
bác sĩ thú y khám, mua thuốc băng bó cho nó. Riêng tôi, mỗi lần chăm
lo cho nó, tôi có cảm giác như đang lo cho một đồng đội bị thương tích
của mình. Hơn hai tháng sau, khi đôi chân của nó lành hẳn, cũng là lúc
tuyết đang rơi trắng cả khung trời. Được thả ra khỏi lồng, nhưng nó
chỉ quanh quẩn trong nhà. Suốt gần một năm nó là một thành viên đặc
biệt trong gia đình tôi và là bạn thân của hai cô con gái nhỏ.

Khi mùa thu trở lại, tôi bàn bạc, khuyên mấy đứa con chuẩn bị trả nó
lại với đàn, khi những con chim thiên di đầu tiên trở lại. Giải thích
và năn nỉ mãi mấy cô mới chịu. Hôm trả nó lại sum họp với đàn, hai cô
con gái nâng niu, âu yếm tâm tình rồi chia tay nó. Không khí cảm động
không thua gì những cuộc chia ly trên thế gian này.

Một điều làm cả nhà tôi ngạc nhiên và xúc động. Cuối mùa thu năm sau,
khi những đàn chim bắt đầu trở lại, một buổi tối khi sửa soạn đi ngủ,
mấy cô con gái của tôi bất ngờ thấy con chim trane đậu ngoài cửa sổ.
Khi cửa sổ vừa mở, nó bay vào trong phòng, kêu lên rộn rã. Nhờ vết
thương cũ còn in dấu trên đôi chân của nó, mấy cô con gái mới biết
chắc, nó chính là con chim năm trước. Từ đó, có thể tôi còn biết về
loài chim trane này nhiều hơn những nhà nghiên cứu chim muông: trung
thành và có trí nhớ.

Không ngờ, những con chim trane lại là những niềm vui, nỗi nhớ cho gia
đình tôi trong những ngày lưu lạc ở một vùng bắc âu xa lạ..

Bây giờ mấy cô con gái của tôi đã thành người lớn. Tất cả đã đi học
bên Mỹ, bên Anh rồi ở lại làm việc luôn bên ấy, nhưng cứ gần tới cuối
mùa thu đều gọi về nhà hỏi thăm đàn chim trane có còn tụ tập trước
nhà, và con chim bị thương ngày trước có còn bay về đậu trên khung cửa
sổ.

Suốt mùa thu vừa rồi, tôi trông chờ nhưng đàn chim không trở lại. Tôi
thấy nhớ tiếc những đêm nghe tiếng chim kêu, và những buổi sáng tinh
mơ nhìn từng nhóm lặng lẽ bay theo hình những mũi tên hướng về phương
nam, hùng vĩ như một binh đoàn vượt tuyến xuất phát, bắt đầu một cuộc
hành quân qui mô dài hạn. Nhiều lúc tôi đã từng ước mơ có thêm đôi
cánh, để cùng được bay lên với chúng.

Cơ quan bảo vệ súc vật và sở y tế & vệ sinh thành phố, cũng đã đến
đây từ đầu mùa thu, xịt thuốc sát trùng và dọn dẹp bờ sông, đồng cỏ,
để đón những đàn chim trane trở lại. Năm nay, họ làm việc nhiều hơn,
chuẩn bị mọi điều chu đáo hơn, vì có tin bệnh "cúm gia cầm" ở một vài
xứ nóng phía nam. Họ lo lắng những con chim trane bị lây nhiểm vi
khuẩn H5N1. Loại vi khuẩn mà cả thế giới đang bàn tán về nguy cơ một
cơn đại dịch. Hội Đồng thành phố họp liên miên, bàn bạc về khả năng
những con chim trane, có thể sẽ bị giết chết trên một xứ nóng nào đó,
để ngăn ngừa mang bệnh vào. Họ liên lạc với cơ quan y tế Liên Hiệp
Quốc, gởi thư cho chính phủ của một số nước nhiệt đới phía nam, nhằm
bảo vệ cho những đàn chim trane bay sang trốn lạnh. Họ chuẩn bị, lo
lắng để đón những đàn chim của họ quay về.

Trời đã vào đông, ngoài kia, bầu trời đã đổi sang màu trắng đục, trên
dòng sông Nitelva dày đặc sương mù, báo hiệu những hạt tuyết đầu mùa
sắp rơi. Bà Anne-Mari, trưởng Sở bảo vệ súc vật thành phố, cùng một số
nhân viên đến nhà tôi từ chiều nay. Họ kiên nhẫn ngồi chờ để hy vọng
được đón những đàn chim trane có thể trở lại muộn màng. Họ cùng vợ
chồng tôi uống hết mấy bình trà, rồi chia tay lúc nửa đêm. Tuyết bắt
đầu rơi. Chắc chắn giờ này những con chim trane không còn đến nữa. Khi
đứng lên chia tay, nhìn họ thoáng buồn nhưng không tuyệt vọng. Mỗi
người đều nắm chặt tay tôi và nói lời cầu nguyện bằng an cho những con
chim trane di xứ, dù nó đang trôi dạt ở nơi đâu cũng mong cuối mùa thu
năm sau sẽ kéo nhau trở lại nơi này.

Suốt cả đêm tôi không hề chợp mắt. Không phải tôi nghĩ đến những con
chim trane, mà nghĩ đến thân phận của chính mình cùng những người đồng
hương đang lưu lạc khắp năm châu. Ngược lại với loài chim trane thiên
di, bay về nam tìm nắng ấm, chúng tôi đã phải bỏ quê hương bốn mùa
nắng ấm để đi tìm tự do và tình người ở những vùng băng tuyết xa xăm.
Những mùa đông kéo dài, trong cái lạnh lẽo mới thấy thấm thía tận cùng
nỗi cô đơn xa xứ.

Tự dưng, tôi nghĩ đến một điều: Biết đến khi nào chính quyền ở quê nhà
thật lòng xem những người ra đi là "khúc ruột ngàn dặm", là "một bộ
phận không thể tách rời", để biết yêu thương lo lắng và mong ước đón
tiếp họ trở về, như chính quyền của cái thành phố nhỏ ở xứ Bắc Âu xa
xôi này - nơi từng cưu mang gia đình tôi - đã lo lắng mong chờ những
con chim trane di xứ? Điều đặc biệt hơn, là những người Việt tha
phương sẽ mang về cho quê hương biết bao nhiêu tài năng, trí tuệ, và
bạc tiền, còn những con chim trane kia có thể sẽ mang về cho họ những
con vi khuẩn chết người.

Tôi đắp kín chăn nhưng vẫn thấy lạnh toát, mơ hồ như tuyết đang phủ
đầy người, và vết thương cũ trong lòng vừa mới nhói đau trở lại.

phạm tín an ninh
17 August 2008

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài mới
Vệt Nắng Cuối Chiều (1/24/2012)
Thư Của Tác Giả Phạm Tín An Ninh Từ Na Uy, Âu Châu (1/19/2010)
Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (1/18/2010)
PTAN: Chuyện Cái Nón Lá (2/4/2009)
PTAN : Người Bạn Làng Tam Ích (2/4/2009)
Tin/Bài khác
Ls: Câu Chuyện Ptan # 11: Cô Con Gái Qúa Giang Đêm Mồng Một Tết. (1/15/2009)
Câu chuyện PTAN # 10: Nỗi Buồn Mùa Thu (1/8/2009)
LS: Câu chuyện PTAN # 9: ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ (1/8/2009)
Ls: Ptan # 8: Ba Dòng Nước Mắt (1/8/2009)
Ls: Câu chuyện PTAN # 6, Người Con Gái Phú Hòa (1/5/2009)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768